Trang chủ > Hồ sơ tư liệu > Ia Đrăng trận đánh làm chấn động nước Mỹ

Ia Đrăng trận đánh làm chấn động nước Mỹ

Tháng Ba 25, 2011

LTS: Trận Ia Đrăng là trận đánh then chốt quyết định nhất của chiến dịch Plây-me, là cuộc đụng độ quy mô lớn lần đầu của chủ lực ta với quân đội Mỹ. Trận đánh đã đi vào lịch sử, đánh dấu sự thất bại đầu tiên của Mỹ trên chiến trường miền Nam. Chúng tôi xin trích đăng bài viết của cố Thượng tướng Nguyễn Hữu An, nguyên Phó tư lệnh chiến dịch Plây-me, người chỉ huy trực tiếp trận đánh tại thung lũng Ia Đrăng 45 năm trước…

Mắt tôi vẫn dõi theo những đám khói xám đang tan để lại một vệt dài dọc theo sườn núi những cây cối đổ ngang ngửa. Từ hồi còn ở ngoài miền Bắc tôi đã đọc nhiều tài liệu tham khảo về nền quân sự Hoa Kỳ, bây giờ tận mắt nhìn thấy và đang đụng đầu với nó. Một chiếc B52 chở được 25 tấn bom, riêng ngày hôm nay chúng dùng 24 chiếc nối đuôi nhau quần xung quanh khu vực Chư Pông này. Tôi suy nghĩ về đối tượng tác chiến mới là một đội quân được trang bị rất mạnh, rất hiện đại mà đứng trước đối thủ là một đội quân “đói ăn” trang bị lạc hậu như vậy thì sự chủ quan “trong một thời gian ngắn sẽ đánh gẫy xương sống Việt Cộng” và việc đổ bộ ào ạt hiện nay để “cất vó” chủ lực của Tây Nguyên là điều dễ hiểu. Tôi ra lệnh dừng lại khu vực địch vừa ném bom B52 xong để nắm địch, nắm ta và chỉ huy trận đánh.

Tháng 10-1993, tại Ia Đrăng, Thượng tướng Nguyễn Hữu An (giữa) gặp tướng H. Mua-rơ (bên trái), nguyên trung tá chỉ huy lực lượng kỵ binh bay của Mỹ trong trận đánh ở thung lũng này vào tháng 11-1965. (Ảnh chụp lại)

Mãi tới chiều hôm ấy tôi mới gặp cán bộ chỉ huy Trung đoàn 66 – anh Lã Ngọc Châu, Chính ủy Trung đoàn. Châu cho biết đội hình trung đoàn bị địch chia cắt chưa liên lạc được, anh chỉ nắm được Tiểu đoàn 7 và tình hình địch ở gần Tiểu đoàn 7.

Nắm được tình hình qua Chính ủy Châu và báo cáo của trinh sát, chúng tôi biết bọn địch đứng sát Tiểu đoàn 7 là Tiểu đoàn 1 (thiếu) thuộc Lữ 3 kỵ binh bay. Tôi và anh Đặng Vũ Hiệp, Chính ủy Sở chỉ huy tiền phương hội ý chớp nhoáng quyết định dùng Tiểu đoàn 7 cơ động nhanh đánh vào Tiểu đoàn 1 Mỹ…

Tiểu đoàn 7 đã nổ súng tập kích địch từ 5 giờ rưỡi sáng 15-11. Khoảng 15 phút đầu, địch hỗn loạn nhưng sau đó chống trả quyết liệt. Chúng tôi nghe khá rõ tiếng súng liên thanh, lựu đạn nổ dữ dội. Trên bầu trời kể cả ngày lẫn đêm không phút nào vắng sự gào thét của các loại máy bay, đây đó tiếng bom lấn át mọi âm thanh khác.

Những quả pháo sáng soi rõ từng ngọn cỏ lối đi. Không gian chiến trường tưởng như trong nồi hơi, khí nén đã quá mức, lại còn tiếp tục dồn nén. Đầu óc, cơ thể mọi người dù chỉ là ngồi một chỗ cũng thấy căng thẳng như sợi dây đàn.

Tiểu đoàn 7 tiếp tục tiến công địch. Khoảng 12 giờ máy bay địch tới bắn phá, thả bom na-pan trùm cả lên đội hình của quân Mỹ. Tiểu đoàn 7 để lại một đại đội làm nhiệm vụ bao vây khống chế không cho địch rút chạy hoặc cơ động đi nơi khác. Số còn lại tạm rời trận địa lui lại phía sau để chấn chỉnh đội hình.

Sau một hồi lâu bắn phá, địch đổ bộ thêm một đại đội còn lại của Tiểu đoàn 1.

Ở Sở chỉ huy tiền phương chúng tôi lúc này nắm được tình hình chắc hơn. Dưới Trung đoàn 66 cho biết: Tiểu đoàn 9 đã liên lạc được với Tiểu đoàn 7. Như vậy tương quan lực lượng trong khu vực nhỏ này, mỗi bên có hai tiểu đoàn, nếu tính số lượng quân Mỹ trội hơn, chưa kể hai đại đội pháo và không quân chi viện.

Tối 15 tôi lệnh cho Chính ủy Lã Ngọc Châu (trung đoàn trưởng đi lạc chưa về) nhanh chóng củng cố lực lượng, cố gắng tập kích ở tọa độ X vào sáng ngày 16. Cùng thời điểm đó tôi cử Đồng Thoại, trợ lý tác chiến đi bắt liên lạc với Trung đoàn 33, gặp được tiểu đoàn nào thì giao nhiệm vụ cho tiểu đoàn ấy tập kích vào hai trận địa pháo ở Quynh-co-la để phối hợp với Trung đoàn 66.

Tôi cho một tốp trinh sát đem lệnh cho Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 66) nhanh chóng quay về đường cũ, sẵn sàng đánh địch đang hành quân ngược về phía Tiểu đoàn 8.

Tiểu đoàn 7 đã nổ súng khoảng 3 giờ sáng 17-11. Sau ít phút chiến đấu quyết liệt, Tiểu đoàn 7 đã đánh trúng tiểu đoàn bộ Tiểu đoàn 1 và đánh thiệt hại nặng hai đại đội quân Mỹ. Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 33 bị lạc đường không thực hiện được ý định đánh vào trận địa pháo.

Thấy Tiểu đoàn 1 có nguy cơ bị tiêu diệt, Lữ 3 kỵ binh bay hạ lệnh cho số còn lại hành quân bộ chạy về phía tây Ia Mơ co cụm ở gần trận địa pháo chờ lệnh.

Tôi ra lệnh cho các đơn vị (Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 33) để khỏi bị lạc đường phải liên tục đánh địch cả ban ngày và ban đêm; gặp địch là khẩn trương tổ chức đánh ngay, bám thắt lưng địch mà đánh.

Trưa ngày 17, Tiểu đoàn 8 (Trung đoàn 66) nhận được lệnh hành quân quay lại, đang nghỉ ăn cơm dọc sông Ia Đrăng thì có tin của trinh sát báo cáo: “Quân Mỹ đang tới gần”. Tiểu đoàn trưởng Lê Xuân Phôi bình tĩnh đôn đốc tiểu đoàn nhanh chóng triển khai đội hình chiếm trận địa có lợi trước mặt và hai bên, hình thành thế bao vây ép địch vào giữa hai gọng kìm của tiểu đoàn. Sau khi dùng hỏa lực súng cối chế áp ngắm vào đội hình địch, quân ta dũng cảm đồng loạt xung phong chia cắt đội hình và đánh giáp lá cà với địch. Cả đôi bên lúc này đội hình xen kẽ nhau đến độ chỉ cho phép dùng tiểu liên bắn găm, dùng lưỡi lê, lựu đạn mà chiến đấu.

Nhà báo Gan-lau Uây đã miêu tả trận đánh: “…Khi các khẩu súng cối của họ phát hỏa, quân chính quy Bắc Việt Nam đang vận động dọc theo đội hình quân Mỹ, lập tức quay vòng lại và tiến công. Ở trung tâm của đội hình, đại đội Sác-li phải chịu hậu quả tồi tệ nhất, bị chết 20 và bị thương một số còn đông hơn thế ngay từ phút đầu tiên. Một số quân ta bắn như điên như dại về tứ phía và có đại đội khác đã phàn nàn là họ đã bị bắn bởi chính hỏa lực của quân mình.

Mãi đến lúc này, khi quân Bắc Việt Nam đang tăng cường sức ép tiến công mà Mắc Đết, Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2, Lữ 3 Mỹ vẫn còn ngộ nhận tin rằng sự việc đang diễn ra chính là do quân Mỹ bắn loạn xạ vào nhau… Trung úy Slau-ren Guyn kể lại là Mắc Đết đã gọi điện đài lệnh cho các đơn vị ngừng bắn. Tình hình đã xấu lại trở nên xấu hơn. Đến bây giờ quân Bắc Việt Nam đã có mặt ngay trong hàng ngũ quân Mỹ và trên các ngọn cây cao. Bất cứ ai vận động lên đều bị bắn chết. Thiếu tá Hen-ry và trắc thủ pháo binh đã cố gắng dùng điện đài của họ để gọi pháo binh và không quân chi viện. Điều này đã làm giảm bớt sự chết chóc, nhưng với đội hình kéo dài giữa bãi cỏ cao rậm thì các quả đạn pháo và na-pan sát thương quân Bắc Việt Nam đồng thời cũng sát thương cả người Mỹ. Đơn vị đi đầu, đại đội An-pha phân tán rải ra khắp đoạn rìa của khu vực phát quang trước khi bị tiến công đã mất đúng hai trung đội, 50 người trong những phút đầu. Đến lúc rút ra khỏi khu vực này, nó chỉ còn lại 20 người trong tổng số 160 người. Đại đội Sác-li lúc tập hợp ở khu vực “tia X” để hành quân có 110 người thì lúc này đã bị chết 50 và bị thương 50”…

Mỹ đổ quân xuống thung lũng Ia Đrăng tháng 11-1965. Ảnh tư liệu

Nhận được lệnh của tôi, Trung đoàn 33 đã cho một tiểu đoàn hành quân cấp tốc ngược về phía Chư Pông. Trên đường hành quân Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 33) nghe thấy tiếng súng nổ phía trước mặt, biết chắc chắn quân ta đang chặn đánh địch, không ai bảo ai họ cố gắng vượt lên nhanh. Tới gần sát địch, một đại đội của Tiểu đoàn 1 gặp địch đang chạy lui về phía Chư Pông. Thế là hai đơn vị phối hợp đánh mạnh vào sau lưng tiểu đoàn Mỹ. Sự hiệp đồng tuyệt đẹp của cả hai tiểu đoàn, khiến đội hình quân Mỹ đang rối ren, nhanh chóng bị quân ta tiêu diệt.

Trận đánh kéo dài suốt từ 14 giờ ngày 17 đến 20 giờ ngày 18 mới kết thúc. Theo nhà báo Gan-lâu Uây đi theo hai tiểu đoàn 1 và 2, Lữ đoàn 3 quân Mỹ thì Tiểu đoàn 2 bị chết 155 người, 125 người bị thương và 5 bị mất tích. Như vậy trong 3 tiếng đồng hồ Tiểu đoàn 2 quân Mỹ đã mất 285 người trong tổng số 400, mặc dầu con số này còn xa sự thật. Ngay Đại tướng Oét-mo-len cũng phải thừa nhận đây là một tổn thất rất nghiêm trọng.

Trong ngày 18 địch vội vã điều động lực lượng tới nhiều nơi hy vọng sự giảm nhẹ nguy kịch của Tiểu đoàn 2 kỵ binh bay đang có nguy cơ bị tiêu diệt.

Ở Quynh-co-la địch đổ thêm Tiểu đoàn 3 và 2 đại đội pháo.

Hai trung đoàn dù ngụy nằm trong lực lượng tổng dự bị tức tốc được điều từ Sài Gòn tới cùng với một tiểu đoàn Mỹ hành quân bằng ô tô rồi tiến vào hướng đông nam Đức Cơ, bắc dãy núi Chư Pông để yểm trợ phía sau, đồng thời cố tạo ra một áp lực giả tạo làm thuốc an thần cho quân Mỹ. Rất tiếc Trung đoàn 320 ở hướng đó chỉ đánh tiêu hao, không diệt gọn được tiểu đoàn Mỹ nào.

Ngày 19, hàng chục máy bay tới ném bom bắn phá hồi lâu xung quanh Quynh-co-la, rồi cho trực thăng xuống bốc toàn bộ số quân còn lại về Bầu Cạn. Cuộc hành quân lần đầu tiên của quân Mỹ vào Tây Nguyên đã kết thúc bi thảm.

Kết quả cuối cùng ta đã giành được thắng lợi to lớn vượt xa dự kiến ban đầu, khoảng 1.200 tên Mỹ bị thương vong, ta tiêu diệt Tiểu đoàn 1 và 2 của Lữ đoàn 3 kỵ binh bay, tiêu hao nặng Tiểu đoàn 3 và một số đại đội, bắn rơi 26 máy bay và thu nhiều súng đạn.

Trận đánh ở Ia Đrăng đã làm chấn động đến toàn nước Mỹ, báo hiệu sự thất bại không thể tránh được của quân đội viễn chinh Mỹ. Tôi xin mượn câu nói của nhà báo Mỹ Gan-lâu Uây viết cho Tuần tin tức Mỹ sau đây: “Trận chiến đấu ở thung lũng Ia Đrăng đã làm cho nước Mỹ suy thoái vào một thập kỷ sa lầy đẫm máu, đã dẫn 58.000 người Mỹ vào những chiếc quan tài bằng nhôm sáng bóng do quân đội sản xuất, đã làm hỏng một đời tổng thống, đã mang lại vết nhơ sâu sắc cho các đời tổng thống khác và đẩy cả dân tộc đến chỗ đối lập với chính bản thân mình”.

Cố Thượng tướng Nguyễn Hữu An

%d bloggers like this: