Trang chủ > Tình yêu người lính > Lời cầu hôn không thể nói

Lời cầu hôn không thể nói

Tháng Ba 25, 2011

QĐND – Bây giờ, ông Lê Quang Luận đã bước qua tuổi 60 nhưng ký ức về câu chuyện tình lãng mạn và đượm buồn trong khói lửa chiến tranh vẫn trỗi dậy làm nhói lòng mỗi khi nhắc đến. Có cảm giác, hình như ông đang nợ người ấy một lời yêu mà gần 40 năm trôi qua vẫn chôn chặt trong lòng không thể nói ra…

Cuốn nhật ký như là người bạn tri kỷ để ông Luận trải lòng.

Cuốn nhật ký như là người bạn tri kỷ để ông Luận trải lòng.
Tôi được ông hẹn gặp vào một buổi chiều Chủ nhật trong căn nhà nhỏ ở cuối khu phố 8, phường Quang Trung (Hà Đông, Hà Nội). Ông vừa trở về sau chuyến đi dài ngày luồn rừng tìm đồng đội. Trong chuỗi hoài niệm về những người đồng đội đã ngã xuống, tôi đọc được trong mắt người thương binh 4/4 một ánh lửa tình yêu vẫn cháy âm ỉ, dặc dài theo ông suốt mấy mươi năm.

… Mùa hè năm 1967, rời làng Đơ nhỏ bé thân yêu, chàng trai Lê Quang Luận cùng 5 thanh niên xã Hà Cầu rủ nhau viết đơn tình nguyện vào chiến trường. Vào quân ngũ, ông Luận được biên chế về đơn vị thông tin, học lớp báo vụ rồi làm Đài trưởng 15W (Tiểu đoàn 17, Sư đoàn 2, Quân khu 5), tham gia chiến đấu ở chiến trường Quảng Nam, Quảng Ngãi, Tây Nguyên… Ông được tham gia trận đánh đầu tiên vào khu căn cứ Khâm Đức (Quảng Nam) trong chiến dịch Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968. Bước chân theo cuộc trường chinh, ông ôm máy điện đài hành quân qua khắp các chiến trường…

… Một buổi chiều mùa mưa năm 1972, bầu trời phủ lớp mây đen xám xịt. Tổ đài 15W do Luận phụ trách được lệnh vượt sông Pô Cô phối thuộc chiến đấu cùng trung đoàn Ba Gia. Con thuyền độc mộc lách mình chồm lên làn sóng dữ sang đón đoàn vượt sông. Cùng vượt sông chiều hôm ấy có cả đoàn văn công mới bổ sung từ Bắc vào biểu diễn phục vụ bộ đội. Mọi người đang hối hả lên thuyền. Bỗng một ánh mắt nhung huyền e lệ sau làn tóc mỏng ngước nhìn làm chao đảo trái tim chàng lính trẻ.

– Cô ấy là Việt kiều ở Noong Khai, Thái Lan hồi hương đấy – Phúc, đồng hương Hà Tây nháy mắt tinh nghịch giới thiệu.

Vốn quê ở Hà Tây nhưng từ nhỏ Luận theo gia đình sang Thái Lan sinh sống, sau đấy trở về quê hương tham gia chiến đấu. Bất ngờ gặp người cũng là Việt kiều Thái Lan giữa chiến trường. Luận thấy bồi hồi, xao xuyến lạ.

– Em tên gì? Về Việt Nam chuyến nào? Nay gia đình ở đâu? – Luận hỏi dồn dập như sợ thời gian vuột mất.

– Em tên Thu Hạ, về chuyến tàu 44, được Bác Tôn ra đón, hiện giờ gia đình em ở nơi có mộ Tổ Hùng Vương.

Hạ còn rất trẻ, nước da trắng ngần, xinh xắn. Em như yêu kiều, duyên dáng hơn trong bộ bà ba màu tím Huế. Chiếc mũ tai mèo tô thêm nụ cười e ấp làm duyên trên gương mặt trái xoan.

Vượt qua bên kia sông, vừa vào đến rừng trời bắt đầu mưa. Mưa ào ào. Mưa xối xả. Kệ! Câu chuyện như cuốn hút hai người làm quên đi cái đói, vất vả chặng đường dài, quên cả cơn mưa rừng rào rạt đang dội trên những tán cây.

Chia tay Hạ khi những hạt mưa rừng chỉ còn sót lại trên đám lá cây, Luận vác điện đài hòa cùng đoàn quân tham gia chiến dịch Đắc Tô – Tân Cảnh. Hình ảnh người con gái mảnh mai, vai khoác ba lô, giọng cười nhẹ như gió thổi đã choán ngập tâm hồn Luận. Luận bỗng thấy thương em quá đỗi. Chiến trường khốc liệt, đói, rét, bom đạn địch… thân gái dặm trường, em có chịu nổi không mà sao nụ cười cứ hồn nhiên, vô tư đến vậy…

Hiệp định Pa-ri được ký kết. Một hôm trên đường đi công tác, bỗng nghe thánh thót giọng hát của Hạ được phát trên sóng đài Giải phóng. Em hát bài “Đường chúng ta đi” của nhạc sĩ Huy Du. Giọng hát trong trẻo cất lên giữa đại ngàn, Luận vừa mừng vừa mong sớm gặp lại em.

Rồi niềm mong ước ấy cũng được toại nguyện. Trong hội nghị biểu dương khen thưởng chiến sĩ thi đua của quân khu, Luận bất ngờ gặp Hạ. Em gầy quá, đôi mắt không còn đen láy nữa, sốt rét rừng, đói cơm, củ sắn cầm hơi… đã nhuộm đôi mắt Hạ thành màu nâu đục, môi khô thâm, tóc rụng lưa thưa… Hạ sụt sùi khóc, không nói nửa lời, lặng lẽ dúi vào tay Luận tấm ảnh của em chụp hồi còn học ở trường nghệ thuật. Đêm sông Trường (Trà My – Quảng Ngãi) nước chảy lơ thơ, ánh trăng rằm trải vàng xôn xao mặt nước. Trong vòng tay nồng ấm, Luận nghe Hạ nén tiếng thở dài. Bất chợt, Hạ ôm chầm trao nụ hôn nóng bỏng… Luận mơ màng, ước nguyện hạnh phúc tương lai.

Rồi chiến tranh kết thúc, Luận về tiếp quản Đà Nẵng, chốt giữ trận địa pháo 175mm trên núi Ngũ Hành Sơn. Một buổi chiều nhạt nắng, Hạ xuất hiện ngỡ ngàng. Nắm tay nhau dạo trên bờ cát trắng, giữa tiếng sóng biển rì rào, hoàng hôn lùa nhẹ cơn gió mơn man mái tóc. Lòng dạ xốn xang, Luận định mở miệng nói thì Hạ lấy ngón tay che lại:

– Em đoán biết anh định nói gì rồi, nhưng anh đừng nói gì hết, chiến tranh mà… có điều anh chưa biết về em… Đôi mắt nâu của Hạ thoáng buồn, Hạ bỏ lửng câu nói.

Lấy hết can đảm, Luận thì thầm vào tai Hạ:

– Lần đầu gặp em ở bến Pô Cô anh đã cảm nhận chúng ta cần có nhau, anh sẽ bù đắp những mất mát cho em. Hãy tin anh đi!

– Em rất tin anh nhưng anh đừng nói nữa – Hạ gỡ tay Luận ra – Đối với em, anh quý giá vô cùng, nhưng… rồi biển sẽ trả lời thay em.

Hạ cầm tay Luận kéo chạy về phía biển…

Hòa bình, Luận mang ba lô trở về quê. Mệnh lệnh trái tim thôi thúc Luận bao năm vất vả ngược xuôi đi tìm Hạ nhưng vẫn bặt vô âm tín. Tưởng đã thực sự mất nhau, nhưng thật không ngờ, một lần tình cờ xem chương trình “Trang thơ” trên ti vi, Luận như reo lên khi bắt gặp Hạ xuất hiện trên chiếc xe lăn, ngâm bài thơ “Núi Đôi” của Vũ Cao. “Vậy là bao năm đi tìm em giờ tình yêu anh đã được đền đáp, dù em có bị thương tật thế nào anh vẫn yêu em, lần này nhất định anh sẽ nói lời cầu hôn mà bấy lâu nay chúng mình còn nợ nhau. Hết chiến tranh rồi mà, em hãy để anh được nói trọn lời còn dang dở ở bãi biển năm nào, Hạ nhé!” – Luận vui sướng thầm nhủ trong lòng.

Lần theo địa chỉ, Luận tìm đến được nhà Hạ. Đứng trước ngõ mà lòng dạ bồi hồi, xốn xang, chỉ ít giây phút nữa thôi sẽ được chìm đắm trong mắt nhau. Chỉnh lại tác phong, Luận hồi hộp bước vào. Trời! Luận không tin vào mắt mình. Sao lại thế này, chẳng lẽ trời lại bất công với mình thế sao? Trên bàn thờ, tấm ảnh Hạ choàng chiếc khăn voan, nụ cười tươi rói nhìn Luận như mũi kim chọc vào trái tim. Luận lảo đảo như muốn ngã gục. Niềm hy vọng vừa nhen nhóm lên đã vội tắt. Cô em gái Hạ òa khóc nức nở, khấn vái chị rồi lấy từ sau tấm ảnh ra một lá thư đưa Luận.

“Anh Luận yêu quý của em!

Lẽ ra em đã nói với anh khi anh cầu hôn em ở bãi biển Non Nước. Biển hôm ấy đẹp quá phải không anh? Nhưng lòng em thì buồn, buồn vì tình yêu không được trọn vẹn. Em đã không đủ can đảm nói với anh. Em không muốn vì em mà làm anh buồn những ngày gần em. Cảm ơn tình yêu của em. Cảm ơn anh đã mang lại ngọt ngào hương vị đầu đời. Giờ nếu được nói em sẽ nói rằng: Em rất yêu anh. Song em không muốn anh phải khổ. Em đã giấu anh, em bị nhiễm chất độc Đi-ô-xin rất nặng, chất độc đang giết mòn em từng ngày. Ôi! Chiến tranh tàn khốc, đã cướp đi hạnh phúc bình dị của bao người. Một ngày không xa em phải rời xa mọi người thân và cả anh nữa. Được yêu anh là em hạnh phúc mãn nguyện lắm rồi. Thương và yêu anh nhiều. Hôn anh nghìn lần. Vĩnh biệt anh”…

Luận chết lặng người, nỗi mất mát quá lớn so với sự kỳ vọng về tình yêu của người lính vừa đi ra khỏi cuộc chiến tranh. Vậy là mãi mãi lời cầu hôn của Luận phải nén chặt trong tim, không thể thốt ra…

…. Chiều Hà Đông hôm ấy mới vào độ đầu thu, khí trời vẫn còn ấm áp, vậy mà tôi có cảm giác không gian như đặc quánh lại, tái tê. Bên ấm trà đặc quánh, câu chuyện tình thật thơ mộng nhưng thấm đẫm nước mắt của ông Luận đã kéo tôi hòa vào cùng hoài niệm của quá khứ buồn. Giờ đây, bụi thời gian đã phủ trắng mái đầu, nhưng có lẽ trong trái tim người lính già ấy, dẫu người xưa không còn nhưng ánh lửa tình yêu ban đầu vẫn đẹp và cháy mãi khôn nguôi…

Bài và ảnh: Phan Thế Hiển

%d bloggers like this: