Trang chủ > Kỷ niệm sâu sắc đời bộ đội > Lịch sử về một tấm ảnh

Lịch sử về một tấm ảnh

Tháng Ba 28, 2011

Đó là tấm ảnh “Chủ tịch Hồ Chí Minh tới thăm và dùng thử máy cấy tại Trại thí nghiệm thuộc Sở Nông lâm – Hà Nội năm 1960”, đã được in trên nhiều sách báo. Tuy nhiên, lai lịch, lý do ra đời của tấm ảnh này, xin được nhường lời cho nhân chứng, ông Đỗ Đức Kếu, tên thật là Đỗ Trọng Hải, người mặc bộ bà ba nâu phụ giúp Bác thao tác máy cấy trong tấm ảnh, kể lại.

Trao cho tôi xem tấm ảnh ghi nhận sự kiện trên, với chất giọng trầm ấm, ông Hải bộc bạch: Tôi là Đỗ Đức Kếu, sinh năm 1935, tên thường gọi là Đỗ Trọng Hải, quê ở thôn Chằm, xóm Tân Lập, xã Phương Hưng, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Lúc nhỏ, nhà tôi nghèo lắm. Cha mẹ mất sớm, anh em tôi phải làm thuê, làm mướn kiếm sống. Kháng chiến chống Pháp bùng nổ, tôi tham gia làm quân báo, du kích xã đánh giặc giữ làng.

Năm 1954, hòa bình lập lại trên miền Bắc, tôi hăng hái tham gia Đoàn Thanh niên, làm Bí thư Chi đoàn của thôn, xã, được cử đi dự hội nghị thanh niên tiêu biểu của tỉnh và huyện. Đặc biệt, tôi đã thành công trong việc cải tiến nông cụ như cắt cày chìa vôi thành cày 51, cải tiến bừa chữ Nhi thành bừa đĩa để trâu kéo và sáng chế máy gặt cầm tay có 2 lưỡi gặt lúa có năng suất cao, được áp dụng rộng rãi trong toàn huyện. Cũng chính nhờ vậy mà tôi được Tỉnh Đoàn mời đi báo cáo điển hình trong “Hội nghị nông dân toàn tỉnh” và “Hội nghị lao động vinh quang” của thanh niên toàn tỉnh Hải Dương ngày 18-10-1959. Đầu năm 1960, tôi còn được đi cùng đồng chí Quyện, Phó chủ tịch tỉnh báo cáo trong hội nghị điển hình toàn quốc, được chọn là cá nhân xuất sắc tiêu biểu trong hội nghị thanh niên toàn quốc. Báo cáo của tôi được sắp xếp đọc thứ hai sau một người khác. Tôi thật sự bất ngờ khi vừa đọc xong báo cáo thì thấy Bác Hồ xuất hiện, bước lên sân khấu. Bác căn dặn: “Qua hội nghị này, các cháu đã nghe rõ, thực hiện phương châm “Học, hỏi, hiểu, hành”. Khi về các cháu hãy mang hết tâm huyết, áp dụng những kinh nghiệm thực tiễn, phổ biến tới từng đoàn viên. Bác khen “Cháu Kếu đã biết vận dụng thực tiễn, cải tiến tốt nông cụ. Đất nước ta còn nghèo. Bác và nhân dân trông chờ vào các cháu”.

Ảnh tư liệu

Lần thứ hai, tôi được gặp Bác. Đó là vào tháng 6-1960, tôi và anh Kiều Văn Điền, quê ở Hà Tây được Trung ương Đoàn triệu tập về Hà Nội. Sáng ngày 20-6-1960, hai chúng tôi ăn mặc chỉnh tề, ngực đeo huy hiệu Đoàn, được xe đến đón từ nơi nghỉ gần hồ Thiền Quang vào cổng Phủ Chủ tịch, có hai đồng chí cảnh vệ và đồng chí cán bộ Trung ương Đoàn dẫn vào gặp Bác. Chúng tôi nhìn thấy Bác và đồng chí Vũ Kỳ, thư ký của Bác đang ngồi dưới bóng mát của cây xà cừ. Đến gần Bác, tôi xúc động khi nghe Bác hỏi: “Có phải cháu Kếu ở Hải Dương và cháu Điền ở Hà Tây không?”. Trong câu chuyện, Bác ân cần hỏi chúng tôi văn hóa lớp mấy? Tôi thưa với Bác mới học lớp 5 bổ túc, còn anh Điền thưa: Cháu học lớp 4 ạ. Nghe xong, Bác thân mật nói:

– Giờ Bác cho hai cháu sang Nam Ninh nước bạn học tập. Các cháu có biết Nam Ninh ở đâu không? Cháu Kếu trả lời Bác nghe nào!

Tôi lúng túng: “Thưa bác, cháu không biết Nam Ninh ở đâu ạ”.

Bác cười, nói: “Một đồng chí bí thư Đoàn mà không biết Nam Ninh ở đâu. Đoàn viên thanh niên phải tìm hiểu đất nước mình và đất nước bạn láng giềng”. Bác nhẹ nhàng giải thích:

– Nam Ninh là một tỉnh thuộc Trung Quốc, nơi có nền công nghiệp khá vững chắc, có phong trào cải tiến nông cụ cầm tay, là nơi sản xuất ra các loại máy nông nghiệp lấy tên là Nam Ninh, phù hợp với nền nông nghiệp của nước ta. Bác cho hai cháu sang đó học tập, tiếp thu kiến thức, áp dụng khoa học kỹ thuật mang về phục vụ nhân dân.

Sau đó, Bác giao nhiệm vụ cho đồng chí Vũ Kỳ lo thủ tục nhập cảnh cho chúng tôi và “chúc các cháu thành công”.

Ngày 24-6-1960, tôi và anh Kiều Văn Điền cùng một cán bộ Trung ương Đoàn lên tàu liên vận quốc tế sang Trung Quốc. Với suy nghĩ không phụ công ơn, tình cảm và trách nhiệm Bác tin cậy giao phó, tôi ra sức học tập, tiếp thu từ lý thuyết đến kinh nghiệm thực hành của cán bộ và công nhân bạn về máy cấy Nam Ninh, loại máy cấy có năng suất gấp từ 10 đến 15 người cấy bằng tay.

Sau 4 tháng học tập, chúng tôi trở về nước, đi theo còn có cả một toa tàu liên vận chở máy cấy Nam Ninh của Mao Chủ tịch gửi tặng Hồ Chủ tịch và nhân dân Việt Nam. Chúng tôi được phân công về Xưởng 250 thuộc Viện Công cụ cơ giới nông nghiệp công tác; được đi thao diễn, giới thiệu máy cấy Nam Ninh ở nhiều nơi.

Lần thứ ba, tôi lại được gặp Bác. Đó là vào thời điểm khi đang diễn ra kỳ họp Quốc hội khóa III nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (1960). Tôi được cơ quan giao nhiệm vụ chuẩn bị máy cấy, ruộng cấy và mạ tại khu đồng chợ Bưởi – Từ Liêm (Hà Nội) để thao diễn thực hành máy cấy Nam Ninh cho các đại biểu Quốc hội tới tham quan. Tôi cùng một số thanh niên, nông dân chọn một thửa ruộng cày bừa cẩn thận, gạt phẳng, mạ sắp đều, đặt máy cấy Nam Ninh sẵn sàng trên ruộng.

Đúng thời gian đã định, một đoàn xe ô tô chở các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu Quốc hội đến. Tôi sung sướng, bất ngờ khi nhìn thấy Bác, giản dị trong bộ quần áo nâu, chân đi đôi dép cao su, đầu đội mũ cát trắng, phong thái khoan thai, hiền từ. Các đại biểu đứng, ngồi vây quanh bốn mặt ruộng. Tôi đang chăm chú nhìn Bác, bỗng nghe tiếng Bác gọi:

– Cháu Kếu đâu, mang máy cấy ra đây để Bác cháu ta cùng cấy!

Tôi xúc động đến trào nước mắt bởi Bác vẫn nhớ đến tên tôi. Bác nói xong, liền xắn quần lội xuống ruộng, đến bên máy cấy. Tôi đứng cạnh Bác, báo cáo Bác cách tra mạ, cách thao tác điều khiển máy. Bà Nguyễn Thị Thập, người được bố trí cấy bằng tay, vui vẻ “thách đố”:

– Tôi cấy tay, Bác và chú Kếu cấy bằng máy xem ai nhanh nhé! Các đại biểu trên bờ theo dõi thời gian, tính giúp chúng tôi.

Để Bác thao tác cấy thử xong, phần còn lại của thửa ruộng, một bên tôi cấy bằng máy, một bên bà Thập cấy tay. Kết quả, tính thời gian, năng suất cấy máy nhanh gấp 15 người cấy tay. Cuộc thao diễn máy cấy Nam Ninh đã thành công. Bác cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đại biểu Quốc hội rất vui, khen máy cấy thẳng hàng, cự ly đều, ra mạ đều và tiết kiệm mạ.

Qua thực nghiệm máy cấy Nam Ninh, Bác Hồ đã chỉ thị Viện Công cụ cơ giới biên soạn sách, phổ biến rộng rãi cho thanh niên và nông dân miền Bắc học tập, làm theo…

Từ ngày ấy đến giờ thấm thoắt thế mà đã 50 năm rồi! Ngắm nhìn tấm ảnh, ông Hải bồi hồi: Bác đã đi xa và tôi nay đã là một ông già 75 tuổi còn gì. Nhưng hình ảnh giản dị, gần gũi cùng những lời chỉ dạy của Bác, đặc biệt là tấm ảnh tôi được chụp chung với Người mãi mãi là kỷ niệm không quên, là báu vật của tôi và gia đình.

Đồng Kim Hải

%d bloggers like this: