Trang chủ > Kỷ niệm sâu sắc đời bộ đội > Tướng ngụy Vĩnh Nghi dưới mắt các nhà địch vận

Tướng ngụy Vĩnh Nghi dưới mắt các nhà địch vận

Tháng Tư 4, 2011

Qua khai thác tù binh và các nguồn tài liệu của địch, ngay từ năm 1973, “chân dung” tướng ngụy Nguyễn Vĩnh Nghi đã được các cán bộ địch vận của ta xác định là một viên tướng khôn khéo, nhiều thủ đoạn và rất được lòng cấp trên.

“Nếu tôi là Tổng thống Thiệu…”

Vào trung tuần tháng 4-1975, sau khi tuyến phòng thủ từ xa của quân đội Sài Gòn tại Phan Rang bị quân ta đập tan, từ Tổng hành dinh ở Hà Nội, cấp trên đã chỉ thị dùng máy bay đưa gấp hai viên tướng ngụy bị bắt là Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi (Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3) và Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang (Tư lệnh Sư đoàn 6 không quân) ra Hà Nội để khai thác thông tin.

Chúng tôi đã tìm gặp Thiếu tướng Phạm Đình Thức, nguyên Phó cục trưởng Cục Địch vận, năm 1975 ông là Trưởng phòng Nghiên cứu địch (Cục Địch vận) và là người có mặt cùng các cán bộ tác chiến, quân báo trong những ngày khai thác Nguyễn Vĩnh Nghi ở trại tù binh Sơn Tây (Hà Nội). Ông kể: Ngay sau khi máy bay vừa chở Nghi và Sang ra Bắc, ta bố trí cho hai viên tướng này ở hai phòng riêng có giường ngủ, bàn làm việc và được đối xử tốt. Hôm đó, anh Lê Quang Đạo, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị có tới tiếp xúc Nghi ở trại tù binh. Khi anh Đạo hỏi chuyện Nghi quanh việc ăn, nghỉ tại trại, Nghi bảo: “Tôi nằm đệm quen rồi, về đây không có đệm nên rất khó ngủ!”. Theo chỉ đạo của đồng chí Phó chủ nhiệm, Trại tù binh liên hệ ngay với Bệnh viện 108 để xin hai chiếc đệm giường cho hai viên tướng ngụy.

Ông Phạm Đình Thức kể chuyện khai thác tướng ngụy Vĩnh Nghi tại trại tù binh Sơn Tây năm 1975.

Trong thời khắc quan trọng của những ngày tháng Tư lịch sử, khi các cánh quân của ta đang tiến về Sài Gòn, chúng tôi nhận nhiệm vụ tranh thủ khai thác Nghi để có thêm nguồn thông tin tham khảo báo cáo lên trên. Nội dung chủ yếu xoáy vào việc bố trí quân của địch. Chúng tôi trải tấm bản đồ ra bàn, đặt ra cho Nghi những câu hỏi: Anh nhận định về Quân giải phóng như thế nào? Theo hiểu biết của anh, Thiệu sẽ bố trí lực lượng giữ Sài Gòn ra sao? Lúc đầu, Vĩnh Nghi rất dè chừng, ông ta bảo: “Các ông hỏi tôi những câu này thật khó trả lời”. Chúng tôi bảo Nghi: “Vậy thì chúng tôi sẽ cho anh thời gian để suy nghĩ”. Ngay lúc đó, Nguyễn Vĩnh Nghi vừa hút thuốc, vừa lặng lẽ suy nghĩ. Rồi sau đó, ông ta đến bên tấm bản đồ, nói với chúng tôi một cách rành mạch các địa điểm tác chiến, các điểm mạnh, yếu của địch, việc bố trí quân và ý định của chính quyền Sài Gòn… Nghi khẳng định: Tổng thống Thiệu chỉ bố trí một lực lượng rất mỏng ở Sài Gòn, nếu các ông đã đánh “bóc dần” được vòng ngoài thì việc đánh chiếm nội đô sẽ rất dễ dàng. Sau đó, chúng tôi đặt vấn đề: “Nếu anh ở vào cương vị của Thiệu, anh sẽ làm gì?”, Nghi trả lời: “Nếu tôi là Tổng thống Thiệu, tôi sẽ không cố giữ Sài Gòn mà sẽ kéo về cố thủ ở miền Tây”…

Sau này, trong bản tự khai ở trại học tập cải tạo dành cho cấp tướng ngụy, Vĩnh Nghi thừa nhận: Một trong những thất bại của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu chính là việc không chú trọng xây dựng tư tưởng cho binh lính quân đội Sài Gòn. Theo Nghi, việc xây dựng lý tưởng chiến đấu luôn được Tổng cục Chiến tranh chính trị của Quân đội Sài Gòn tóm lược trong 4 nhóm chủ đề là: “Tư tưởng Quốc gia”; “Ý thức chống cộng”; “Xây dựng đơn vị” và “Tranh thủ nhân dân”, nhưng thực chất việc học tập chính trị trong quân đội ngụy không đạt được mục đích, việc học trong binh sĩ thường bị các đơn vị viện cớ vì lý do hành quân mà tổ chức cho có hình thức, không có chiều sâu và liên tục… Nguyễn Vĩnh Nghi cũng cho rằng: Những việc người Mỹ thực hiện ở chiến trường miền Nam Việt Nam đã gây ra sự chia rẽ và phân hóa trầm trọng giữa người Việt với người Việt. Đã vậy, họ còn đặt ra cả những “tội ác tưởng tượng” của Chính phủ cách mạng và Quân giải phóng.

“Chân dung” viên tướng tù binh

Nguyễn Vĩnh Nghi quê ở tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Nghi đi lính cho thực dân Pháp từ năm 1951, sau đó vào học ở Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt. Sau đó, Nghi thăng tiến khá nhanh và năm 1954 đã là đại úy, rồi thiếu tá, phụ tá Bộ Tổng tham mưu ngụy. Năm 1964, Nghi leo lên chức Tham mưu trưởng Võ bị quốc gia Đà Lạt, một năm sau làm Tham mưu trưởng Tổng cục Chiến tranh chính trị, rồi sau đó đi học tham mưu cao cấp ở Mỹ. Năm 1966, Nghi về nước và được phong đại tá, trong năm này Nghi tham gia vào vụ đàn áp Phật giáo ở miền Trung và sau đó được cử làm Tham mưu trưởng Quân đoàn 1. Hai năm sau được phong Chuẩn tướng và nhận chức Tư lệnh Sư đoàn 21 bộ binh.

Trong sinh hoạt, Nghi có đặc điểm là thích nhảy đầm, thích rượu, gái, thích bưng bít, ca tụng cá nhân, thường dùng hình thức khen thưởng huân, huy chương để khích lệ binh sĩ hơn là giải thích, động viên chính trị. Nghi thuộc loại giàu có, gia đình Nghi sở hữu một rạp chiếu bóng ở góc đường Lê Lai (Sài Gòn) do vợ kinh doanh. Mẹ vợ Nghi là ký giả báo “Tia sáng”-một tờ báo thân chính quyền Thiệu. “Đồng nghiệp” của Nghi có kể: tuy Nghi đối xử với bạn bè không được tốt nhưng với cấp trên lại rất được lòng, bởi vậy mà Nghi nhiều lần được Nguyễn Văn Thiệu khen thưởng và tuyên dương là “có nhiều công trạng” ở vùng đồng bằng sông Cửu Long những năm 1966-1967 và 1970-1971. Từ năm 1970 đến năm 1974, Nghi nhanh chóng được Thiệu cất nhắc làm Tư lệnh Quân đoàn 4 thay cho Ngô Quang Trưởng, leo dần lên cấp bậc trung tướng. Trong thời gian làm Tư lệnh Quân đoàn 4, do bị tố cáo có dính líu đến tham nhũng, viên tướng 3 sao này bị đưa về làm Chỉ huy trưởng Trường bộ binh.

Từ đầu tháng 4-1975, Nghi nhận nhiệm vụ về phòng tuyến Phan Rang với cương vị là Tư lệnh tiền phương Quân đoàn 3. Theo lời kể của tướng ngụy Phạm Ngọc Sang, Tư lệnh sư đoàn 6 không quân: Khi đến Phan Rang nhận trách nhiệm phòng thủ và thiết lập Bộ chỉ huy tiền phương trong căn cứ Sư đoàn 6, lúc đó Nghi tin rằng sẽ được cấp trên chấp thuận gởi ra một số đơn vị để giữ Phan Rang. Bởi tin tưởng vào lời hứa này mà ông ta đã vui lòng đảm nhận chức vụ. Vì xác định địa thế của Phan Rang có nhiều thuận lợi cho việc phòng thủ nên Nghi quan niệm: Phải chống giữ mặt  bắc từ quận Du Long, mặt tây từ quận Tân Mỹ và phải giữ an toàn cho căn cứ không quân cũng như an ninh cho thị xã. Theo quan niệm đó, Nghi thảo ra kế hoạch phòng thủ Phan Rang với một lực lượng cỡ 2 sư đoàn. Đó là: Mặt bắc, trên quốc lộ 1 trấn giữ các điểm cao tại đèo Du Long với một dải chiến tuyến hùng hậu tại Du Long cùng các tuyến phụ tại Ba Râu và Ba Tháp để ngăn chặn mọi cuộc tấn công hướng vào thị xã hoặc vào căn cứ. Mặt phía tây, trên quốc lộ 11, án ngữ tại vùng Tân Mỹ, một chiến tuyến để bảo vệ mặt tây và nam của sân bay. Việc bảo đảm an ninh cho thị xã và sân bay do các đơn vị chính quy phối hợp với quân địa phương phụ trách…

Tuy vậy, kế hoạch phòng thủ của Nghi và đồng bọn đã bị phá sản trước đòn tiến công mãnh liệt của quân ta. Toàn bộ quân địch ở Phan Rang gồm hơn một vạn tên bị tiêu diệt và bắt sống.

Ngày 16-4-1975, khi vừa nhậm chức Tư lệnh tiền phương chưa đầy một tháng, “tướng ba sao” Nguyễn Vĩnh Nghi đã trở thành “viên tướng tù binh” sau chặng đường binh nghiệp hơn 20 năm…

Bài và ảnh: Bùi Minh Tuệ

%d bloggers like this: