Trang chủ > Kỷ niệm sâu sắc đời bộ đội > Lời thú nhận muộn màng của Mạch Văn Trường

Lời thú nhận muộn màng của Mạch Văn Trường

Tháng Tư 6, 2011

Bốn ngày trước khi chế độ Sài Gòn sụp đổ, Tổng thống Trần Văn Hương quyết định thăng cấp đặc cách cho một số viên tư lệnh sư đoàn đang “ra sức cố thủ” ở địa bàn các Quân đoàn 3, Quân đoàn 4 của Quân đội Sài Gòn. Khi ấy, Mạch Văn Trường mới ở tuổi 39 và được phong chuẩn tướng khi đang là Tư lệnh Sư đoàn 21 bộ binh. Trường cũng là một trong số ít các chỉ huy sư đoàn được chính quyền Sài Gòn “thăng cấp ở mặt trận”…

“Sĩ quan tài năng” dưới mắt quan thầy

Mạch Văn Trường quê ở Bạc Liêu, tuy không phải con nhà khá giả nhưng cũng được gia đình cho đi ăn học ở Sài Gòn. Sau khi có bằng tú tài, Trường quyết định thi vào Trường Võ bị Đà Lạt với quan niệm: Nghề binh vừa nhiều tiền, vừa dễ tiến thân. Sau khi tốt nghiệp loại giỏi ở một trường quân sự được coi là danh giá, Trường về Trung tâm huấn luyện Quang Trung làm nhiệm vụ huấn luyện vũ khí. Con đường tiến thân của viên sĩ quan trẻ này bắt đầu hanh thông khi được người Mỹ “để mắt” tới và được đánh giá là một trong số ít những “sĩ quan có triển vọng”. Trường được cử đi Pho Ben-ninh (FortBenning, Hoa Kỳ) học hai khóa huấn luyện cơ bản: Một khóa huấn luyện về bộ binh, một khóa về quân xa. Năm 1962, Trường lại được cử đi Ma-lai-xi-a học về phương thức tác chiến trong rừng già, sau đó đi Xin-ga-po học thêm một khóa về tình báo tác chiến…

Mạch Văn Trường.

Qua những lần được cử đi nước ngoài đào tạo, Trường được thăng cấp khá nhanh. Năm 1964, sau khi học tình báo tác chiến ở Xin-ga-po về, Trường đã là đại úy, Biệt đội trưởng Biệt đội quân báo thuộc Sư đoàn 21. Bốn năm sau, khi leo tới chức Tham mưu trưởng Tổng trấn Sài Gòn, Mạch Văn Trường đã trở thành một tư sản có cỡ với cô vợ là một nhà buôn tên tuổi ở Thủ Đức. Đúng như tham vọng “kiếm tiền” và “tiến thân”, Trường đã có xe hơi, có biệt thự và lần lượt thăng quan tiến chức tới các vị trí: Trung đoàn trưởng Trung đoàn 8, Sư đoàn 5; Phó tư lệnh Sư đoàn 5, Quân đoàn 3; Tỉnh trưởng tỉnh Long Khánh; Tư lệnh Sư đoàn 21, Quân đoàn 4 và nhận lon chuẩn tướng khi đang ở “tuổi băm”…

Tương xứng với các chức vụ trên đường binh nghiệp, lập trường và quan điểm chống Cộng của Trường cũng ngày càng thêm “sắt đá”. Tháng 4 năm 1972, là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 8, thuộc Sư đoàn 5 bộ binh, Trường nhận nhiệm vụ chốt giữ Dầu Tiếng và Trường đã làm khá tốt. Nhưng tình thế quân ngụy ở miền Đông Nam Bộ lúc đó lại rất xấu, Bộ tư lệnh Sư đoàn 5 ở thị xã An Lộc đang bị Quân giải phóng bao vây, “sếp” của Trường là Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, Tư lệnh Sư đoàn 5 có nguy cơ bị bắt sống. Đúng thời điểm “nước sôi lửa bỏng” ấy, Trường nhận lệnh của tướng Nguyễn Văn Minh, Tư lệnh Quân đoàn 3: “Đưa Trung đoàn 8 vào An Lộc bằng mọi giá”. Trường đã đổ quân trót lọt xuống An Lộc và được “sếp” Hưng yêu cầu bố trí quân ở phía bắc An Lộc làm tổng tiền đồn. Trường tổ chức đại đội trinh sát và đưa một tiểu đoàn lập tuyến phòng ngự phía trước nhằm quyết giành giật trận địa với Quân giải phóng. Viên trung đoàn trưởng “cần mẫn” này đã mò xuống trận địa kiểm tra từng khẩu súng, động viên từng tên lính rồi bị dính đạn pháo của Quân giải phóng và được đàn em khiêng về tuyến sau.

Trung đoàn 8 dưới sự chỉ huy “cứng rắn” của Mạch Văn Trường được đánh giá là “yếu tố quyết định” cho sự sống sót của quân ngụy ở An Lộc. Trường được cấp trên coi là một trong những nhân vật “tử thủ An Lộc”. Ba tháng sau sự kiện An Lộc, Trường được lên chức Phó tư lệnh Sư đoàn 5, rồi sau đó được ưu ái giữ chức Tỉnh trưởng tỉnh Long Khánh để có điều kiện “làm kinh tế”.

Do các cố vấn Mỹ ở từng cấp thường “bám” rất chặt và nắm khá chắc đội ngũ chỉ huy các quân đoàn, sư đoàn, tỉnh trưởng qua những cuộc vui chơi, ăn uống… nên họ cũng nắm rõ ý định, nhận thức của số sĩ quan này qua các sự kiện, qua từng chiến trường. Người Mỹ đã chú ý đến Mạch Văn Trường bởi sự “mẫn cán”, “tài năng” và “cuồng chiến”, đúng như mẫu chỉ huy sư đoàn mà Lầu Năm Góc đang cần. Bởi vậy, tháng 10-1974, Trường được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 21, Quân đoàn 4 ở tuổi 38, cho dù Trường tự thấy mình là người không phe cánh, không quan thầy và chẳng phải diện “con ông cháu cha”…

Lời thú nhận muộn màng

Sau khi Mỹ thay chân Pháp vào miền Nam, Trường nhận thấy chính sách của ông bạn đồng minh này có “mới” hơn: Họ không câu nệ kén chọn con cái xuất thân từ tầng lớp điền chủ và doanh nghiệp, mà chính “đồng đô-la” sẽ tạo ra một tầng lớp xã hội biết chống Cộng quyết liệt, mạnh mẽ theo ý muốn của họ. Vào lúc người Mỹ bắt đầu “đổ tiền đổ của” vào miền Nam để xây dựng nền kinh tế của một “thế giới tự do”, cũng là lúc Trường bắt đầu có tiền tậu ô tô, tậu biệt thự và tìm cách ngoi lên từ con đường binh nghiệp. Trường rất hiểu rằng, trong chính quyền Sài Gòn, từ tổng thống đến các tư lệnh quân đoàn, sư đoàn, tỉnh trưởng… đều có dính líu đến các phe nhóm, nào là cùng quê, cùng dòng họ, cùng tín ngưỡng, đảng phái, hoặc ít ra là cùng quen biết, thân thích nhau. Mỗi chỉ huy trưởng đơn vị lại có một lũ “đàn em” làm vây cánh, thường là các chỉ huy trưởng đơn vị trực thuộc, ai có chức vụ to thì bè phái to, chức vụ nhỏ – bè phái nhỏ… Do biết gốc gác mình chẳng phải diện “con ông cháu cha” nên Trường cố tránh không tham gia vào phe cánh nào mà chỉ biết “đánh” thật hăng để tạo dựng tương lai cho mình.

Bản tự khai của Mạch Văn Trường trong trại cải huấn (10-1975). Ảnh tư liệu Mạch Văn Trường.

Với động cơ “kiếm tiền” và “tiến thân”, trong chặng đường binh nghiệp của mình, Trường đã đạt được mục đích, nhất là trong thời gian về Long Khánh nắm chức vụ “quan đầu tỉnh”. Vào thời điểm năm 1972, Long Khánh thường xuyên bị Quân giải phóng tiến công, quốc lộ 1 và quốc lộ 20 thường bị cắt đứt làm rối loạn đường dây tiếp tế cho Tây Nguyên và miền duyên hải, các đồn bốt, xã ấp ven lộ luôn bị đánh chiếm và lực lượng bảo an, dân vệ của tỉnh bị tổn thất nặng. Về nhậm chức tỉnh trưởng, Trường đã thúc quân khai thông quốc lộ, tạm chấm dứt được sự tan rã của các đơn vị bảo an, dân vệ, lấy lại được một số đồn bốt. Quốc lộ khai thông, đồng nghĩa với việc lái thương tiện việc buôn bán, và khi ấy tiền lại được rót vào túi tỉnh trưởng, chưa kể vợ Trường cũng dễ kiếm lời thông qua các phi vụ buôn bán.

Về miền Tây Nam Bộ nắm Sư đoàn 21, Mạch Văn Trường được cấp trên và đồng nghiệp ví như “khẩu súng cối” được đặt đúng chỗ, Trường tiếp tục thể hiện mình bằng “các trận đánh” với hy vọng sớm được mang lon chuẩn tướng. Vào những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn, Trường cũng “toại nguyện” khi được Tổng thống Trần Văn Hương ký quyết định thăng cấp chuẩn tướng. Chỉ có điều, viên “tướng trận” lại đang ở vào tình thế bị “sa cơ” trước sức ép của đối phương. Được tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân đoàn 4 giao nhiệm vụ bảo vệ Bộ tư lệnh Quân đoàn ở Cần Thơ, Trường vẫn tổ chức những đợt chống cự quyết liệt ở tuyến vòng cung ngoại vi thị xã. Chỉ đến khi hay tin Nguyễn Khoa Nam đã tự sát, còn quân lính của các trung đoàn thì hầu như đã tự động vứt bỏ vũ khí, vứt bỏ quân phục, rủ nhau trốn chạy… Trường mới hoang mang cực độ. Lâm vào thế đường cùng, viên “tướng một sao” đành chờ Quân giải phóng đến để “nộp mình”. Sau đó, Trường được cấp giấy phép về thăm vợ con ở Thủ Đức rồi nhận giấy triệu tập đi dự lớp cải huấn của chính quyền cách mạng…

Trong bản tự khai dày hơn 20 trang với nét chữ khá to và giọng văn mộc mạc, Mạch Văn Trường đã viết: “Suốt thời gian tôi ở Sư đoàn 5 và Sư đoàn 21, việc tránh né mục tiêu, tránh chạm súng, báo cáo láo… thường xuyên xảy ra trong binh lính và gần như là căn bệnh chung của Quân đội Sài Gòn”. Trường thú nhận: Ngay trong năm đầu tiên nắm sư đoàn, rất nhiều binh lính Sư đoàn 21 khi di chuyển lên tham chiến ở quốc lộ 13 đã đào ngũ, hoặc lẩn trốn dọc đường hành quân. Năm ấy, Sư đoàn 21 có hơn 6.000 lính đào ngũ…

Khi trải qua các chức vụ cả “ngụy quân” lẫn “ngụy quyền”, càng về sau, do bị mê hoặc bởi đồng tiền, bởi các chức vụ cao hơn mà Trường chỉ chú tâm vào việc “đánh thật hăng” theo lệnh của trên. Trong khi ấy, cái xã hội phồn vinh giả tạo đang đầy rẫy những sự bất công, tham nhũng, bè phái… còn Quân đội Sài Gòn thì đang có dấu hiệu rệu rã, sa sút về tinh thần. “Chỉ vì muốn nhiều tiền và dễ tiến thân nên tôi đã chọn nghề binh, rồi chúng tôi đã lóa mắt và bị cuốn hút vào những cái lon tướng, được trả công đánh thuê, chống lại đồng bào mình…”.

Đó là những lời thú nhận muộn màng mà mãi tới tháng 10-1975, khi trở thành học viên trong các lớp cải huấn, Mạch Văn Trường mới có thời gian ngồi viết lại…

Bùi Minh Tuệ

%d bloggers like this: