Ra đời trong bão táp

Tháng Tư 7, 2011

Trước bước ngoặt chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ do chiến thắng Chiến dịch Tây Nguyên tạo ra, Bộ Chính trị hạ quyết tâm nhanh chóng giải phóng miền Nam, hoàn thành cuộc kháng chiến chống Mỹ trước mùa mưa năm 1975 với một loạt biện pháp chiến lược tổng hợp, trong đó vấn đề có tính quyết định là gấp rút tổ chức những quả đấm mạnh cho chiến dịch. Quân đoàn 3 được gấp rút thành lập nhằm đáp ứng yêu cầu đó.

Sự ra đời của Quân đoàn 3, được hình thành từ các đơn vị chủ lực đã giành thắng lợi vang dội trong Chiến dịch Tây Nguyên là một tất yếu, đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của quân đội ta, của các lực lượng vũ trang Tây Nguyên.

Đại tướng Văn Tiến Dũng công bố quyết định thành lập Quân đoàn 3 tại Chư Xê (27-3-1975). Ảnh tư liệu.

Chiều 27-3-1975, tại Sở chỉ huy Chư Xê tây đường 14, Đại tướng Văn Tiến Dũng thay mặt Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương công bố quyết định thành lập Quân đoàn 3. Dự cuộc họp có đồng chí Vũ Lăng, Phó Tư lệnh chiến dịch Tây Nguyên được bổ nhiệm làm Tư lệnh quân đoàn, vừa từ Sư đoàn 10 trên đường 21 trở về; tôi, Tham mưu trưởng chiến dịch; đồng chí Nguyễn Thế Nguyên, Phái viên của Bộ phụ trách tham mưu phó và đồng chí Hoàng Dũng, Chánh văn phòng Bộ Tổng tham mưu. Đồng chí Đặng Vũ Hiệp được bổ nhiệm làm Chính ủy đang đi cùng Sư đoàn 10 trên mặt trận Nha Trang, Cam Ranh; Đồng chí Nguyễn Năng, Phó Tư lệnh đang đi cùng Sư đoàn 320 trên hướng Phú Yên; đồng chí Kim Tuấn, Sư đoàn trưởng, đồng chí Phí Triệu Hàm, Chính ủy Sư đoàn 320 được bổ nhiệm làm Phó Tư lệnh và Phó Chính ủy quân đoàn vẫn phải chỉ huy Sư đoàn 320 cho đến khi đến khu vực tập kết Dầu Tiếng bắc Sài Gòn mới trở về Sở chỉ huy quân đoàn.

Tại cuộc họp, đồng chí Văn Tiến Dũng giao nhiệm vụ cho quân đoàn phải nhanh chóng kết thúc chiến dịch, tổ chức thu quân, chấn chỉnh tổ chức, bổ sung quân số, trang bị vũ khí, tách một bộ phận nhỏ giải quyết tình hình sau chiến dịch, còn quân đoàn gấp rút cơ động về tập kết tại khu vực Dầu Tiếng, chậm nhất ngày 25-4-1975 phải có mặt tại khu vực tập kết. Sở chỉ huy nhẹ của quân đoàn phải có mặt trước ngày 10-4-1975 để nhận nhiệm vụ chiến dịch. Đại tướng nhắc lại: Lúc này thời gian là lực lượng, phải rất khẩn trương, không thể chậm trễ. Tôi còn nhớ khi lệnh trực tiếp cho Sư đoàn 320, đồng chí nhắc đi nhắc lại, đại ý: “Không được tiếc con tép mà bỏ mất con cá”. Có thể nói việc thu quân là hết sức khó khăn. Sư đoàn 320 đang rải khắp địa bàn tỉnh Phú Yên từ núi Chóp Chài ở phía bắc đến Tuy Hòa, sân bay Đồng Tác ở phía Nam. Có bộ phận đang truy kích địch chạy thoát thân ra biển. Sư đoàn 10 đang truy kích địch từ Nha Trang đến Cam Ranh và Ba Ngòi. Các Binh chủng xe tăng, pháo binh, phòng không và công binh đang phân tán phối thuộc cho cả hướng Sư đoàn 320 và Sư đoàn 10. Chỉ có Sư đoàn 316 còn truy quét tàn quân địch, mở rộng vùng giải phóng tại Đắc Lắc là tương đối thuận lợi hơn.

Bộ Tư lệnh quân đoàn và cơ quan phần lớn đang phân tán đi theo các hướng, chỉ còn Tham mưu trưởng và một bộ phận nhỏ cơ quan trực tại Sở chỉ huy, nên việc phải nhanh chóng vừa thu quân, vừa chấn chỉnh tổ chức, bổ sung quân số trang bị, cơ động về địa bàn tập kết  trong điều kiện các cầu cống đã bị phá sập khi rút chạy và không quân địch đang tập trung oanh tạc ngăn chặn bước phát triển của ta là rất khó khăn. Việc cấp thiết nhất lúc này là điện Chính ủy Đặng Vũ Hiệp về gấp Sở chỉ huy để cùng Tư lệnh Vũ Lăng bàn bạc công việc trước mắt. Việc thứ hai là làm kế hoạch cơ động cho các đơn vị, đúng ngày quy định có mặt ở khu vực tập kết Dầu Tiếng. Công việc này lúc bình thường thì không có gì khó khăn lắm, nhưng lúc này là nan giải vì các đơn vị đang phân tán khắp nơi, tình hình địch, tình hình đường sá không nắm được cụ thể, phương tiện cơ giới cho các đơn vị cơ động chỉ đáp ứng được 2 phần 3 yêu cầu.

Trước tình hình đó, Tư lệnh Vũ Lăng quyết định chỉ xác định cho Sư đoàn 320 và Sư đoàn 10 cùng hai đơn vị xa nhất, căn cứ vào tình hình thực tế để chọn phương án bảo đảm hành quân tập kết đúng thời gian quy định. Về phương tiện cơ động, huy động trong dân mọi phương tiện nào nhanh hơn đi bộ thì hết sức tận dụng, từ xe tải, xe khách, xe đò, xe máy, chú ý đơn vị làm nhiệm vụ trước và chỉ huy cơ quan đi trước. Biện pháp này tỏ ra rất hữu hiệu. Nhân dân được tin bộ đội cần phương tiện để cơ động về hướng Sài Gòn  đều hết sức hưởng ứng. Nhiều người khi chở bộ đội về đến nơi tập kết chỉ xin một tờ giấy xác nhận “giúp bộ đội chở quân đi chiến đấu”.  Lúc này tình hình Sư đoàn 320 rất khó khăn, chưa biết thu quân đi theo đường nào. Tư lệnh quân đoàn chỉ khêu gợi hai hướng: Nếu đường thông suốt thì theo đường quốc lộ về Ninh Hòa rồi ngược đường 21 lên Buôn Ma Thuột và đường 14 về Tây Ninh, hoặc trở lại đường truy kích lúc đầu. Cuối cùng đường 1 bị địch phá hoại cầu cống nên buộc phải quay lại đường cũ, tuy cự ly có xa hơn nhiều.

Xe tăng và bộ binh của Quân đoàn 3 tiến từ hướng Tây Bắc vào giải phóng Sài Gòn sáng 30-4-1975. Ảnh tư liệu

Trên hướng Sư đoàn 10, tình hình lúc này lại còn phức tạp và ác liệt hơn. Khi rút chạy khỏi Nha Trang và Cam Ranh, địch phá sập cầu Ba Ngòi, bộ phận đi đầu cùng xe tăng, phòng không lợi dụng đường lâm nghiệp đi về hướng Đà Lạt-Kiến Đức-Dầu Tiếng. Khi phát hiện lực lượng ta phát triển về hướng nam, địch tập trung máy bay oanh tạc quyết liệt. Đơn vị vừa chiến đấu với máy bay, vừa mở đường nên đã có một số tổn thất về người và phương tiện. Riêng bộ phận mới đến Nha Trang thì quay lại đường 21 theo trục hành quân của quân đoàn. Cuộc hành quân vào đầu mùa mưa, đường sá bắt đầu lầy lội. Để khỏi sa lầy, ta chủ trương cho các phương tiện nhẹ đi trước, các phương tiện nặng và xe tăng đi sau để tránh bị phá hỏng đường.

Trong hoàn cảnh như vậy, nhưng với khí thế sau chiến thắng, được khích lệ với nhiệm vụ trọng đại sắp tới, chỉ huy các cấp đã phát huy mọi sáng kiến, với quyết tâm “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Đơn vị cuối cùng là bộ phận Sư đoàn 10 theo đường lâm nghiệp cũng đã đến nơi tập kết vào ngày 24-4-1975, trước quy định một ngày. Có thể nói việc tổ chức thu quân một quân đoàn đang phân tán, lại vừa chấn chỉnh tổ chức, vừa chiến đấu trong suốt chặng đường trên 500km trong  thời gian chưa đầy một tháng là một kỷ lục hiếm thấy. Nếu các quân đoàn bạn hành quân với tinh thần “thần tốc”, thì Quân đoàn 3 lại vừa gom quân, chấn chỉnh, tổ chức “thần tốc”, vừa cơ động thần tốc. Quân đoàn được ra đời trong bão táp cách mạng, ở một thời điểm lịch sử quyết định của đất nước, bước vào trận quyết chiến cuối cùng của cuộc kháng chiến, đảm nhiệm nhiệm vụ trên hướng chủ yếu của Chiến dịch Hồ Chí Minh, đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tư lệnh Không quân ngụy, Bộ Tư lệnh Dù ngụy, cùng quân đoàn bạn đánh chiếm hoàn toàn khu vực Bộ Tổng tham mưu ngụy, chủ động phát triển về Dinh Độc lập, cùng các lực lượng chiến dịch giải phóng Sài Gòn vào 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975.

Kế thừa truyền thống của nhân dân các dân tộc và các lực lượng vũ trang Tây Nguyên, Quân đoàn 3-Binh đoàn Tây Nguyên đã tạo dựng cho mình bản lĩnh của một binh đoàn vừa mang đầy đủ tinh thần “Quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, vừa mang đậm truyền thống Tây Nguyên bất khuất.

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước

%d bloggers like this: