Trang chủ > Hồ sơ tư liệu > Nguyễn Khoa Nam: Cô đơn và đoản mệnh

Nguyễn Khoa Nam: Cô đơn và đoản mệnh

Tháng Tư 19, 2011

QĐND – Trong quân đội ngụy Sài Gòn, có hơn 160 người đeo lon tướng, thì Nguyễn Khoa Nam là một trong rất ít tướng được binh sĩ ca ngợi bởi vẻ học thức và sự “trong sạch”. Nhưng vào ngày tàn cuộc chiến, ông ta vẫn bị mê hoặc bởi một thứ “lý tưởng nhập khẩu” từ Mỹ và đã chọn con đường ngu ngốc: tự sát.

Nguyễn Khoa Nam-Viên tướng sống cô đơn, khép kín.

Huế giải phóng ngày 26-3-1975 thì chừng 16 giờ chiều hôm sau, Đoàn công tác đặc biệt của Bộ tư lệnh Pháo binh đã có mặt tại căn cứ Trần Cao Vân. Từ tối ấy, đoàn chúng tôi trú tại Nhà thờ họ Nguyễn Khoa cạnh chùa Bà La Mật, thuộc địa phận xã Phú Hương, huyện Phú Vang trên đường Huế đi Thuận An. Với 38 sĩ quan trung, cao cấp và  hai chiến sĩ, vậy mà chúng tôi chỉ sử dụng hết một phần nhỏ diện tích của nhà thờ. Thuở học trường huyện, được tắm gội trong những áng văn của nhà lý luận phê bình văn học Hải Triều-Nguyễn Khoa Văn, mấy năm sau lại ở trong Nhà thờ họ Nguyễn Khoa, thế nên “eng” (anh) giải phóng vừa từ Hà Nội vào là tôi cứ đoán già đoán non tướng Nguyễn Khoa Nam bên kia chiến tuyến có thể là hậu duệ của cụ Tổ tại nhà thờ này, nên lò mò thu thập những điều người ta nói về Nam.

Trong đội ngũ bại tướng của quân đội Sài Gòn, có lẽ Nguyễn Khoa Nam là người được học hành đến nơi đến chốn và đậm chất nghệ sĩ nhất. Nam quê gốc làng An Cựu Tây, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, sinh ngày 23-9-1927, tại Đà Nẵng. Bố là Nguyễn Khoa Túc làm Thanh tra giáo dục thời Pháp thuộc tại Đà Nẵng (về hưu năm 1941 tại Huế); mẹ là Tôn Nữ Mộc Cẩn thuộc dòng Tuy Lý Vương. Gia đình có 5 anh chị em, hai anh mất sớm, năm 1975 chị gái là Nguyễn Khoa Diệu Khâm làm ngành y tại Sài Gòn, em trai là Nguyễn Khoa Phước theo ngành giáo dục. Nam học Tiểu học tại Trường École des Garcons (trường dành cho nam học sinh) ở Ðà Nẵng, sau đó ra Huế học Trường Khải Ðịnh, năm 1943 đậu bằng Thành chung và học lên Nhị cấp, năm 1947 tiếp tục học lớp Ðệ nhị Toán và lớp Hành chính tại Huế. Nam giỏi Anh ngữ và Pháp ngữ, lại có năng khiếu hội họa và âm nhạc. Thời gian 1947-1949, Nam tập trung vào hội họa. Chuyện rằng hồi đó Nam ngồi suốt ngày bên khung vải, cặm cụi cho ra đủ các loại tranh sơn dầu, bột màu, bút chì, một số bức tranh được trưng bày. Thời trai trẻ nghe bảo Nam từng yêu một mỹ nữ, về sau người này sang Pháp và lấy chồng là bác sĩ bên ấy, từ đó ông ta “kiêng kỵ” phụ nữ đến suốt đời, nhưng người thân và gia đình vẫn thấy trong các tác phẩm hội họa của chàng trai thất tình này luôn thấp thoáng bóng dáng người tình xưa. Năm 1951, Nam làm tại Sở Ngân sách Trung kỳ.

Tháng 4-1953, Nguyễn Khoa Nam vào học Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức thuộc “Quân đội Quốc gia Việt Nam” trong Liên hiệp Pháp. Mãn khóa, y đeo lon thiếu úy, từ đó con người sống thiên về nội tâm và rêu phong như lăng tẩm Huế đã bị cuốn vào đường binh nghiệp.

Năm 1955, y làm Ðại đội trưởng lính dù, sau đó đi học kỹ thuật khoảng 8 tháng ở Pau (Pháp), trở về đeo lon đại úy. Từ khi đeo lon úy cho đến khi đeo lon tướng vào năm 1972, làm Tư lệnh Quân đoàn 4 kiêm Tư lệnh vùng 4 chiến thuật, Nam sống độc thân khép kín, hầu như không mấy khi tâm sự với ai, thế nên người ngoài từ cấp trên đến cấp dưới đều khó hiểu, khó gần. Y thuộc tạng “xa lạ giữa những người thân thuộc”.

Việc Nguyễn Khoa Nam cho lập mật khu tử thủ tại Cần Thơ tháng 4-1975 và sau đó tự sát cùng với cấp phó của mình là Chuẩn tướng Lê Văn Hưng về sau được một số tàn quân viết trong hồi ký. Theo Lê Nguyên Bình, cựu đại tá ở Bộ Tham mưu Vùng 4 chiến thuật quân đội ngụy Sài Gòn thì: “Bộ tư lệnh vùng 4 và Quân đoàn 4 đã nỗ lực xây nhiều địa ốc kiên cố chuẩn bị cho Bộ Tổng tham mưu (Quân đội Sài Gòn) và các đơn vị khi cần có thể rút về giữ tuyến cuối cùng… Từ ngày 24 đến 30-4-1975, Quân Giải phóng đã chia cắt và chiếm nhiều đoạn dài trên lộ 4 (tức Quốc lộ 1A hiện nay). Tỉnh trưởng Long An nhiều lần gọi điện xin dùng thuốc nổ phá hủy hai cầu Tân An và Bến Lức nhằm cắt đứt bước tiến của Quân Giải phóng, nhưng Nguyễn Khoa Nam nhất quyết không đồng ý vì dự phòng phương án cho chính quyền Sài Gòn và Bộ Tổng tham mưu lui về Cần Thơ bằng đường bộ (!)… Sáng 30-4-1975, một số binh sĩ bỏ ngũ. Tại thị xã cảnh náo loạn đã xảy ra, kế hoạch tử thủ ở Cần Thơ của Nguyễn Khoa Nam cũng không thuận lòng dân địa phương…”.

Trưởng thành từ lính dù (một trong những lực lượng “con cưng” khét tiếng gian ác của quân đội Sài Gòn) từ đại đội trưởng đến lữ đoàn trưởng lữ đoàn nhảy dù, lại làm tay sai cho hết chủ Pháp rồi chủ Mỹ, bàn tay của Nguyễn Khoa Nam từng vấy máu đồng bào ta từ Quảng Ngãi, Kon Tum, Sài Gòn-Chợ Lớn… đến Tiền Giang, Cần Thơ. Thế mà, theo lời kể của Lê Văn Danh (trung úy, trợ lý của Nam), Nam lại là “tín đồ” của đạo Phật: “Tầng dưới sở chỉ huy nơi ông làm việc, khi bước vào cửa: bên trái là phòng thuyết trình cũng là nơi làm việc của tùy viên. Bên phải là phòng thờ Phật. Bàn thờ Phật đặt giữa bức tường phía sau, trên bàn thờ Phật có tượng Phật Thích Ca, phía bên phải bàn thờ Phật có một cái chuông nhỏ, giữa là lư hương được cắm nhang điện, bên trái là đĩa trái cây và hai cây đèn cầy bằng điện ở hai bên bàn thờ. Bên phải phòng thờ Phật là phòng ăn của ông, phòng rất dài, trên 10 thước, đặt một bàn ăn dài, trải vải trắng, tấm vải trắng này đã đắp cho ông sau khi chết… Buổi sáng trước 7 giờ, trước khi đi làm ông đến bàn thờ đốt nhang xá Phật, cắm hương vào lư nhang và gõ vài tiếng chuông, tối về trước khi đi ngủ ông đến bàn Phật đốt nhang như buổi sáng…”.

Phải chăng ghê sợ với chính tội ác của mình mà những ngày cuối cùng của cuộc đời, Nguyễn Khoa Nam đã tìm đến cửa Phật để cầu mong được xá tội?

Trong khi 5 cánh Quân Giải phóng đang như 5 dòng thác tiến về Sài Gòn, nhiều viên tướng của quân đội Sài Gòn đã theo Nguyễn Văn Thiệu chuồn ra nước ngoài, số đông còn lại không thể tháo chạy theo cầu hàng không nên đành ở lại mặt đất để mấy hôm sau chấp hành cải huấn. Thời gian đầu họ sống trong nơm nớp, đến hết thời gian cải huấn họ đã được sống tự do cùng gia đình. Bấy giờ, chính họ tự thốt lên rằng chỉ có “cuộc tắm máu” xảy ra trong hoang tưởng của họ mà thôi.

Riêng Nguyễn Khoa Nam dường như luôn lẻ loi với đời thường hay bị tiêm nhiễm luận điệu tuyên truyền từ bộ máy chiến tranh tâm lý của Mỹ-Thiệu, hoặc lo sợ trước tội ác của mình từng gây cho đồng bào nên đã chọn cái chết. Danh chứng kiến ngày cuối cùng của “chủ tướng” mình:  “…Từ ngoài nhìn vô bàn Phật, ông ngồi trên ghế sô-pha phía bên phải, đôi mắt đăm chiêu nhìn lên bàn thờ. Anh Việt (tùy viên thứ hai của ông) bước ra cửa để về thăm vợ con, còn trung sĩ Hộ đang thập thò trước cửa. Ông đứng dậy đến bàn thờ lấy 3 cây nhang đốt, vái ba vái cắm vào lư hương, gõ 3 tiếng chuông… xong vái 3 vái tiếp rồi về ngồi lại nơi cũ, hai tay để trên thành gỗ sô-pha như không có chuyện gì sắp xảy ra, bất chợt ông xoay qua bảo:

– Danh ra ngoài bảo Việt dẫn vợ con đi đi.

– Dạ.

Tôi thầm nghĩ ông và tôi đều độc thân, chắc ông nghĩ cách khác. Tôi đẩy nhẹ cánh cửa bước ra sân hướng về phòng trung úy Việt. Vừa đi khỏi một chút, tôi nghe tiếng súng nổ từ hướng bàn thờ Phật. Tôi chưa kịp quay trở lại thì trung sĩ Hộ chạy ra la thất thanh:

– Ðại úy! Ðại úy ơi! Thiếu tướng tự sát rồi (trong lúc hoảng sợ trung sĩ Hộ đã gọi nhầm Danh là “đại úy” – GH)

Tôi vội chạy vào phòng hãi hùng chứng kiến: Ông ngã ngửa hơi lệch về phía sau sô-pha, đầu nghiêng về bên trái, khẩu Côn 45 vẫn còn trong tay buông thõng xuống, nhưng các ngón tay cầm súng đã nới lỏng, đầu đạn xuyên từ tai phải qua trái, mắt ngước nhìn lên trần nhà… Lúc đó là khoảng 7 giờ 30 phút sáng ngày 1-5-1975… (Về thời điểm Nguyễn Khoa Nam tự sát, có tài liệu ghi xảy ra đêm 30-4 rạng sáng 1-5-1975 – GH).

Giao Hưởng

(Tài liệu tham khảo: Hồi ký của Lê Ngọc Danh, Lê Văn Hưng đăng trên báo chí nước ngoài)

Quân đội Nhân dân

%d bloggers like this: