Trang chủ > Phân tích > Trận đánh cuối cùng của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản

Trận đánh cuối cùng của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản

Tháng Bảy 13, 2011

QĐND – Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản – người được sử sách các đời và nhiều thế hệ người Việt xưa nay, mệnh danh là “Thiếu niên anh hùng”, “Thiếu niên dũng tướng” – chỉ xuất hiện đột ngột giữa bộ chính sử gốc của dân tộc – sách “Đại Việt sử ký toàn thư” – lóe sáng như một vì sao, qua 8 dòng chữ biên niên về năm Nhâm Ngọ, 1282 (lúc tự đến nhưng không được dự “Hội nghị Quân sự Bình Than”, vì… “còn trẻ tuổi”), và trong 2 câu sử bút ngắn ngủi nữa về năm Ất Dậu, 1285 (khi đánh trận ở Tây Kết và Chương Dương). Còn trước đó từ đâu đến, và sau đấy đi về đâu – không một lời, một chữ nào cho biết.

Làng Trang Liệt (xã Đồng Quang, Từ Sơn, Bắc Ninh) – nơi được coi là dòng dõi và quê hương của Hoài văn hầu Trần Quốc Toản. Ảnh: Quang Huy

Ở bài viết nhỏ này, trước hết, xin được qua một “Kênh dẫn tín hiệu” mong manh, thử tìm nguồn gốc của vị Thiếu niên dũng tướng anh hùng của dân tộc.

Xuất phát từ việc chọn chữ đặt định tước hiệu – liệu có thể coi là quy tắc được chăng – của các dòng họ đại quý tộc nhà Trần. Chẳng hạn như chữ “Hưng” của nhánh An Sinh vương Trần Liễu: con trai trưởng Trần Tung – Hưng Ninh vương, con trai thứ Trần Quốc Tuấn – Hưng Đạo vương, cháu (tức là con của Trần Hưng Đạo) Trần Quốc Tảng – Hưng Nhượng vương… Hoặc như chữ “Chiêu” của nhánh Thái Tông Trần Cảnh: các con trai là Trần Quang Khải – Chiêu Minh vương, Trần Ích Tắc – Chiêu Quốc vương, Trần Nhật Duật – Chiêu Văn vương… Chúng ta chú ý đến chữ “Hoài” trong tước hiệu (Hoài Văn hầu) của Trần Quốc Toản.

Có một đại quý tộc – “bằng vai phải lứa” với An Sinh vương Trần Liễu, Thái Tông Trần Cảnh – nhưng vốn là “con không được thừa nhận”, đúng hơn là “con được thừa nhận muộn” của Thượng hoàng Trần Thừa. Đó là Trần Bà Liệt. Sách “Đại Việt sử ký toàn thư”, đoạn biên niên về năm Nhâm Thìn, 1232, chép: “Xưa, Thượng hoàng (Trần Thừa) còn hàn vi, lấy người con gái thôn Bà Liệt (tỉnh Nam Định bây giờ). Người đó có mang thì bị ruồng bỏ. Đến khi Bà Liệt ra đời, Thượng hoàng không nhận con. Lớn lên, Bà Liệt khôi ngô, giỏi võ nghệ, xin sung vào đội đánh vật của triều đình. Một hôm, đấu với người trong đội. Người kia vật ngã Bà Liệt, bóp cổ đến suýt tắc thở. Thượng hoàng thét lên: “Con ta đấy”. Người ấy sợ hãi, lạy tạ. Ngay hôm đó, Thượng hoàng nhận Bà Liệt làm con, xuống lệnh phong cho làm Hoài Đức vương”.

Vậy là Trần Bà Liệt được mang tước hiệu Hoài Đức vương, được nhận “đất phong” ở vùng Trang Liệt (Kẻ Sặt, Từ Sơn – Bắc Ninh, ở không xa Bình Than, nơi họp “Hội nghị Quân sự” năm 1282). Sự kiện lịch sử đặc sắc này, có chữ “Hoài” của tước hiệu Hoài Đức vương, và địa danh Trang Liệt – nơi bây giờ vẫn thờ phụng Hoài Đức vương làm thần làng – có thể giúp ta manh mối, dẫn nối đến việc tìm kiếm dòng dõi và quê hương của Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản.

Bây giờ là điều đã diễn ra vào những ngày hè đỏ lửa, đầu tháng 5 năm Ất Dậu, tức tháng 6 năm 1285.

Đại quân Nguyên Mông, sau nửa năm – từ tháng Chạp năm Giáp Thân, tức tháng 1 năm 1285 tràn qua biên giới, “tung hoành” trên đất nước Đại Việt, đến lúc này, đã bị quân dân nhà Trần đại phản công, đánh cho chỉ còn cách chạy tháo về nước. Chủ tướng Thoát Hoan của giặc quyết định chọn con đường quen thuộc: rút khỏi kinh thành Thăng Long, chạy qua Gia Lâm bên kia sông Cái (Hồng Hà), theo “đường cái quan” (đường Quốc lộ số 1 bây giờ), ngược lên biên giới Lạng Sơn, lộn về cố quốc!

Ngày 6 tháng 5 năm Ất Dậu, tức là ngày 10-6-1285, hai anh em Hưng Ninh vương Trần Tung và Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn đã đem một lực lượng lớn – hơn hai vạn quân giao chiến kịch liệt với giặc ở Gia Lâm, nhằm đánh đòn tiêu diệt quân địch trên đường chúng tháo chạy về nước. Ngay sau trận này, vị Quốc công Tiết chế mang tước hiệu với chữ “Hưng”, đã đưa ngay quân sĩ về căn cứ chiến lược Vạn Kiếp – chính là “đất phong” của mình giăng tiếp một chiếc bẫy khổng lồ nữa ở đấy, chờ giặc chạy đến.

Nhưng điều này chỉ có thể xảy ra, nếu giặc không theo “đường cái quan” mà chạy ngược lên qua sông Như Nguyệt (chỗ Thị Cầu – Đáp Cầu, tỉnh Bắc Ninh bây giờ). Vậy là phải chẹn giặc ở Như Nguyệt, dồn ép chúng phải theo con đường (bây giờ là Quốc lộ số 18) tạt chếch về phía đông, qua Vạn Kiếp, để mà “sập bẫy” ở đấy.

Nhiệm vụ hệ trọng này, đã được giao cho Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản.

Không hiểu sao, tất cả các bộ chính sử cổ truyền của ta đều bỏ qua, không chép chữ nào về trận Như Nguyệt đặc biệt này. Nhưng sử sách phương bắc của triều đại Nguyên Mông, lại có những trang, dòng viết rất cụ thể về trận được gọi tên rõ ràng là “Như Nguyệt”, và chủ tướng phía Đại Việt của trận này, cũng được chép tước hiệu rành rẽ là “Hoài Văn hầu”. Đó là những chữ ở trong – không phải một, mà là hai bộ sách: “Nguyên sử”, và “Kinh thế đại điển tự lục”.

Như vậy, trên thực tế lịch sử, Trần Quốc Toản đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, như sử cũ chép – đại quân giặc bị chẹn cứng ở ngả Như Nguyệt, buộc phải dạt về phía đông, rơi vào chiếc bẫy Vạn Kiếp mà Trần Hưng Đạo đã giăng sẵn ở đấy. Để rồi sau đấy, mấy kẻ sống sót, thì chủ tướng Thoát Hoan phải chui vào ống đồng để thoát thân mà về châu Tư Minh chịu tội thất trận. Phó tướng Lý Hằng thì trúng tên độc ở đầu gối bên trái, được lính cõng chạy thục mạng, cũng về đến châu Tư Minh, tuy nhiên đến nơi thì chết, vì ngấm thuốc độc.

Nhưng, đấy cũng là kết quả của trận đánh cuối cùng của vị Thiếu niên dũng tướng anh hùng Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản.

Sách “Kể chuyện ngàn xưa Thăng Long – Hà Nội” có đoạn – theo văn chương truyền thuyết viết: “Buổi chiều ngày hè tháng Sáu. Hoàng hôn xuống chậm trên chiến trường Như Nguyệt phơi đầy xác giặc. Giữa vầng sáng rực của mặt trời dần khuất sau dãy đồi ven sông Cầu, bỗng thấy in thẫm lên hình ảnh một vị dũng tướng, người ngựa đều đẫm máu, rơi tay kiếm, từ từ quỵ xuống, rồi mất hút sau sắc đỏ ráng chiều…”.

Khi ấy, Trần Quốc Toản – nếu tính tuổi là 15, khi chưa đủ lớn để được dự “Hội nghị Quân sự Bình Than” năm 1282, thì mùa hè năm 1285 này – vừa tròn 18 tuổi.

Nhà sử học Lê Văn Lan

qdnd.vn

%d bloggers like this: