Trang chủ > Trên mặt trận thầm lặng > Bốn ngày “tác nghiệp” của phóng viên Phạm Xuân Ẩn

Bốn ngày “tác nghiệp” của phóng viên Phạm Xuân Ẩn

Tháng Ba 25, 2014

QĐND – Sáng 2-4-1972, Hai Trung đang tán gẫu với mấy người bạn trong tiệm Gi-vơ-ran (Givral) thì Phạm Dương Hiển, Phụ tá của Hoàng Đức Nhã (em họ, Bí thư kiêm Tham vụ báo chí của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu) hớt hải đi vào. Thấy Hai Trung, Hiển liền chạy tới, kéo ghế ngồi sát rồi thì thầm: “Anh hay tin chưa? Rất quan trọng về quân sự đấy!

Hay rồi thì thôi, chưa hay, tôi sẽ cung cấp để anh khỏi đi sau đồng nghiệp”. Đoán đó là tin ta đánh lớn ở Quảng Trị vừa được Nguyễn Văn Đại (Đại tá, Phụ tá Trưởng phòng 3 – Bộ Tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn) tiết lộ chiều hôm trước, song để thực hiện yêu cầu điều tra của cấp trên, Hai Trung vẫn hồ hởi: “Có gì anh cứ nói, tôi đâu phải thầy bói mà biết hết”.

Anh hùng Phạm Xuân Ẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp tại Hà Nội (tháng 12-1976). Ảnh tư liệu

Hiển thuật lại khá chi tiết về cuộc tiến công của ta và cho biết Thiệu cùng đồng bọn rất lo lắng. Nghe xong, Hai Trung cười, bảo:

– Anh nhớ hôm qua là ngày gì không? Cá tháng Tư đó! Chắc Việt Cộng đánh cho vui thôi, chớ có lo! Tình hình nước Mỹ trước bầu cử Tổng thống và quan hệ Mỹ – Trung, Mỹ – Xô ra sao, anh rõ rồi. Là cố vấn chiến lược của Tổng thống, anh và anh Nhã nên tìm hiểu vì sao Việt Cộng không tấn công vào đầu mùa khô như thường lệ, Ních-xơn sẽ đối phó thế nào, nếu quân ta không chống đỡ nổi thì Mỹ sẽ giúp sức hay vẫn chỉ yểm trợ hạn chế như hồi Lam Sơn 719?

Hiển “chậc” một tiếng rồi nói:

– Đúng là nhà báo, tưởng tượng, giả thiết ghê thật! Việc ở Quảng Trị mà anh móc chuyện bên Mỹ, Nga, Tàu vô thì đến… bố tôi cũng chẳng trả lời nổi. Đùa vậy thôi, tôi sẽ cố tìm hiểu rồi báo với anh.

Sáng hôm sau, Hai Trung tới hỏi Đại xem có tin gì mới không. Đại nói: “Bộ Tổng tham mưu chỉ là một hộp thư quân sự, một nơi theo dõi tình hình. Việt Cộng đánh mạnh thế chứ mạnh nữa thì ông Thiệu, ông Lãm (Trung tướng, Tư lệnh Vùng chiến thuật 1) vẫn phải ráng đỡ đòn. Tình hình có vẻ căng lắm, ông Cơ-rây-tơn A-brams (Creigton Abrams – Đại tướng, Tư lệnh các lực lượng viễn chinh Mỹ tại miền Nam Việt Nam) và ông Cao Văn Viên (Đại tướng, Tổng tham mưu trưởng Quân đội Sài Gòn) đang bàn cách đối phó.

Hai Trung vừa về tới nhà thì Phrăng-xít Kao (Francis Kao – Thiếu tướng, tùy viên quân sự Đài Loan tại Sài Gòn) mò tới. Ông ta thăm dò:

– Tôi rất vui vì cuộc tiến công này là cú tát vào mặt Ních-xơn. Anh có tin gì về chuyến đi Hà Nội của Chu Ân Lai sau khi Mỹ – Trung ra thông cáo chung Thượng Hải không?

Hai Trung khéo léo né tránh chủ đề mà Kao nêu ra:

– Mấy bữa nay tôi dồn sức theo dõi tình hình quân sự, để đồng nghiệp Mỹ lo mảng chính trị. Theo ý tôi thì hiện cũng na ná hồi đầu mùa hè năm 1954, chưa biết chừng sẽ dẫn tới một hội nghị nhằm chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương.

Sáng 4-4, hay tin hôm trước Thiệu vừa họp với nội các, Hai Trung liền tới nhà Phạm Văn Đổng (Thiếu tướng, Bộ trưởng Bộ cựu chiến binh), một nguồn tin quan trọng lâu nay của mình. Vừa thấy Hai Trung, Đổng đã sốt sắng nói:

– “Toa” (cậu – tiếng Pháp) thiêng thật! “Moa” (tớ) đi họp nội các về, đang lo sốt vó, định gọi “toa” tới hàn huyên đó! Đây là lần đầu Việt Cộng dùng xe tăng và trọng pháo yểm trợ tiến công từ ngoài vào, chắc là được đồng minh mách nước. Chỉ tụi mình là khổ vì mấy ông Mỹ miệng nói đồng minh song chẳng chịu tiết lộ chúng đang mưu tính cái chi. “Toa” ráng tìm hiểu ý đồ của chúng rồi cho “moa” biết nhé!

– Thiếu tướng cứ an tâm, hễ có tin gì từ phía Mỹ, tôi sẽ báo ngay – Hai Trung trấn an Đổng rồi nhẹ giọng hỏi – Tại cuộc họp nội các, Thủ tướng Trần Thiện Khiêm và các ông Tổng trưởng, Bộ trưởng nhận định ra sao, Tổng thống đã quyết định cách đối phó thế nào?

– Nội các nhận định Việt Cộng đang đánh trận cuối cùng để chốt hội nghị Pa-ri, đang cố lấn chiếm đất đai để có vốn mà mặc cả và chuẩn bị cho cuộc đấu tranh chính trị rất gay cấn sau khi ngưng chiến. Ngoài ra, họ còn muốn đốc thúc dân Mỹ đòi Ních-xơn ngưng chiến trước tháng 11 vì sợ nếu Ních-xơn tái đắc cử, phe diều hâu ở Mỹ sẽ rắn hơn. Họ rất khôn ngoan khi đánh vào đầu mùa mưa mà không đợi tới mùa khô… – Đổng trả lời, ngừng vài giây rồi tiếp – “Moa” choảng nhau với Việt Cộng nhiều rồi, phải thừa nhận họ làm gì cũng có bài bản.

– Tình hình nghiêm trọng vậy, ta đối phó thế nào? Hai Trung làm bộ lo lắng hỏi.

– Mới rồi ông Thiệu và nội các đã đề xuất với Abrams đổ quân ra Đồng Hới đánh bọc hậu Bắc Việt, song hiềm một nỗi quân Mỹ đang rút về, chỉ còn 6-7 vạn, chưa chắc Ních-xơn đã nghe. Lực lượng tổng trừ bị của ta đã hư hao nhiều ở Hạ Lào, đang bất mãn, nếu phái đi thì dám lội biển trở về lắm. Đó là chưa kể chắc gì Mỹ chịu yểm trợ, rồi hai nhóm Kỳ, Minh có thừa dịp mà đảo chính không? “Moa” đoán ông Thiệu sẽ phái Sư đoàn dù ra giúp Sư đoàn 1 vì mấy tháng rày, Dư Quốc Đống (Thiếu tướng, Tư lệnh Sư đoàn dù) rất hay cặp kè, ăn nhậu với Kỳ. Tình hình này, có lẽ ông Thiệu còn tính thay Lãm bằng Ngô Quang Trưởng, tuy Lãm đã có công lớn giúp ông Thiệu trong cuộc bầu cử Tổng thống năm 1967.

Chiều 4-4, Hai Trung tới gặp Nguyễn Hữu Vị (Trung tá, Chánh văn phòng của Chuẩn tướng Nguyễn Khắc Bình, Tư lệnh Cảnh sát quốc gia kiêm Đặc ủy trưởng Trung ương tình báo). Vị là bạn học hồi nhỏ, hơn Hai Trung 2 tuổi. Thấy Hai Trung, Vị cười, nói: “Mấy bữa nay tao bận làm việc với sếp nên chưa ra gặp mày được. Mày cần tin gì thì nói luôn đi, để tao coi có giúp được không. Tưởng mày không vội tới tao là vì có thừa tin quân sự rồi, xài chẳng hết?”.

Hai Trung vào chủ đề chính:

– Thằng bạn ông ở Pa-ri mấy bữa nay có điện về tin gì mới không? Mấy tay Mỹ bạn tôi bảo các diễn biến mới về quân sự là nhằm thúc đẩy hòa đàm đi tới chỗ kết thúc. Theo ông, sự kết thúc ấy sẽ thế nào?

Vị đáp:

– Thằng Phong (Nguyễn Xuân Phong, Phụ tá Trưởng phái đoàn Sài Gòn tại hội nghị Pa-ri) báo về là phái đoàn ta gần như cô độc. Nó đoán khai thông xong bế tắc với Việt Cộng, Mỹ mới báo cho ta, nhiều khả năng ta sẽ bất lợi. Vì không biết Mỹ sẽ nhượng bộ Việt Cộng tới đâu nên nó cứ điện về xin chỉ thị hoài, làm sếp tao điên hết đầu. Nhưng hiện việc sếp tao lo nhất không phải là hội nghị Pa-ri mà là bọn sĩ quan không quân và dù nghe cha Kỳ xúi, làm đảo chính và lo Việt Cộng chơi lại một cú như hồi Mậu Thân 1968.

Rời chỗ Vị, Hai Trung tới gặp Nguyễn Bé (Đại tá, Chỉ huy trưởng Trung tâm huấn luyện cán bộ xây dựng nông thôn) hỏi Bé và mấy tên cố vấn Mỹ của y đánh giá tình hình ra sao, liệu sự tấn công của Việt Cộng có ảnh hưởng tới chương trình bình định và kế hoạch củng cố chính quyền trong 3 năm 1972-1975 mà Thiệu đã phê duyệt? Bé tiết lộ: “Mấy cha Mỹ bảo tôi Việt Cộng đánh mạnh từ bên ngoài song bên trong lực lượng yếu hơn nhiều so với hồi Mậu Thân, vì thế đừng lo, cứ an tâm củng cố đội ngũ cán bộ xây dựng nông thôn. Rút kinh nghiệm do loại bỏ ông Diệm mà tiêu luôn quốc sách ấp chiến lược, Mỹ sẽ ủng hộ ông Thiệu đến cùng, chí ít là tới kỳ bầu cử tổng thống vào năm 1975, bất kể hội nghị Pa-ri kết thúc ra sao. Biết tôi khoái tham gia đảo chính, mấy cha đã cảnh báo chớ nghe xui dại mà vạ lây. Mỹ theo dõi rất chặt, biết ai định lật ông Thiệu là báo ngay cho Nguyễn Khắc Bình, Đặng Văn Quang (Quang là Trung tướng, Phụ tá an ninh và tình báo của Thiệu). Mấy cha còn bảo nếu ông Thiệu bị lật thì quan hệ của Mỹ với các nước đệ tam thế giới, nhất là các nước nhỏ đi theo Mỹ sẽ bị ảnh hưởng xấu.

Sáng 5-4, Hiển gọi điện cho Hai Trung, giọng rất phấn khích:

– Thế nào hôm nay tôi cũng có tin giật gân cho anh. 15 phút trước, Đại tướng Abrams, Đại sứ Bơn-kơ (Bunker) và Đại tướng Viên tới họp với Tổng thống. Họ đem theo nhiều bản đồ quân sự và có vẻ vui lắm.

Hai Trung đề nghị:

– Tôi đoán sáng nay họ họp xong nên tôi sẽ ngồi ở chỗ làm tới 2 giờ chiều. Hễ họ họp xong và anh hỏi được tin từ anh Nhã thì gọi tôi ngay, sau đó mình tới tiệm Aterbea ăn trưa.

Khoảng 11 giờ 30 phút trưa hôm ấy, Hiển gọi điện bảo Hai Trung tới tiệm Aterbea đợi Hiển làm việc với Nhã độ nửa giờ rồi tới. Ngồi đợi Hiển, lòng Hai Trung như có lửa đốt. Quá trưa một chút thì Hiển xuất hiện, y cười thật tươi rồi nói ngay: “Tôi có tin này song vì phía Mỹ yêu cầu để Ních-xơn tuyên bố trước nên mai anh mới được dùng, đó là Abrams đề nghị giội lại bom toàn bộ miền Bắc, tới tận biên giới với Trung Cộng, không loại trừ Hà Nội, Hải Phòng, đồng thời giội bom tuyến đường Hồ Chí Minh với mức độ cao nhất từ trước tới nay. Thời gian tiến hành chưa có giới hạn. Ních-xơn đã chấp thuận…”.

Hôm sau, khi Ních-xơn ra tuyên bố, Hai Trung gọi điện mời hai tên CIA quen biết là Nguyễn Văn Sáng, Nguyễn Văn Ái tới tiệm Victory ăn tối. Trong bữa ăn, Hai Trung hỏi:

– Trước hai anh đã cho tôi biết CIA sẽ phát triển mạng lưới ở khắp các vùng nông thôn để chuẩn bị cho giai đoạn hậu chiến, vậy với việc giội bom trở lại miền Bắc, chủ trương trên có thay đổi gì không?

Ái trả lời:

– Sáng nay, sếp đã giải thích tình hình và bảo tụi tôi cứ làm việc như trước, không thay đổi gì. Ông ấy nói cuộc giội bom này có hai mục đích chính, một là tiêu diệt guồng máy chiến tranh của Việt Cộng để khi ngưng chiến chúng không còn đủ sức đánh miền Nam, hai là buộc Bắc Việt trở lại bàn đàm phán, chịu chấm dứt chiến tranh trước kỳ bầu cử Tổng thống Mỹ…

Tất cả các tin quan trọng trên, Hai Trung đều kịp thời báo về Trung tâm.

 (Ghi theo lời kể của Thiếu tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Phạm Xuân Ẩn)

 Vũ Sáng

Nguồn: qdnd.vn
Vkyno (st)

Advertisements
%d bloggers like this: