Trang chủ > Nhìn từ phía bên kia > Lời tự thú của các tướng tá ngụy: Tướng Trần Văn Đôn làm chứng!

Lời tự thú của các tướng tá ngụy: Tướng Trần Văn Đôn làm chứng!

Tháng Tư 4, 2014

Tướng Trần Văn Đôn là Tổng trưởng Quốc phòng cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Là một “nhân chứng lịch sử” trực tiếp chứng kiến những ngày bi thảm và cảnh sụp đổ của ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn năm 1975, Trần Văn Đôn khi trả lời phỏng vấn của báo Le Figaro đã thú nhận những sai lầm về chính trị, quân sự… dẫn tới sự sụp đổ tất yếu của chế độ Sài Gòn tay sai Mỹ:

Hỏi: Ông giải thích thế nào về sự sụp đổ quá nhanh của quân đội nam Việt Nam?

Trả lời: Quân đội của chúng tôi (quân ngụy) rất đông, mạnh và được trang bị tốt. Chính những mệnh lệnh không nhất quán của tư lệnh các lực lượng vũ trang và sự lộn xộn về chính trị đã làm cho quân đội tan rã. Sự sụp đổ đầu tiên diễn ra ở Buôn Ma Thuột. Các binh lính của chúng tôi vẫn còn giữ được hai phần ba thành phố, khi đó họ yêu cầu không quân yểm trợ và đã được đáp ứng. Nhưng một quả bom đã ném thẳng vào sở chỉ huy, giết chết hầu như tất cả các sĩ quan và phá hủy các phương tiện thông tin…

– Vào thời kỳ đó, ông vẫn thường xuyên tiếp xúc với binh lính chứ?

– Tôi lên giữ chức Tổng trưởng Quốc phòng từ ngày 10-4-1975, tức một tháng sau khi diễn ra cuộc tấn công của Cộng sản vào Buôn Ma Thuột. Các sự kiện diễn ra dồn dập. Ngay lập tức, tôi đáp máy bay ra thị sát mặt trận và đã thực hiện nhiều chuyến đi lại bằng máy bay lên thẳng. Các binh lính ngây dại bởi cuộc di tản lớn và sự bất tài của bộ chỉ huy nên không muốn chiến đấu nữa. Ngày 15-4, khi tôi đặt chân lên đất Phan Rang dưới những loạt đạn pháo, ở đó tôi gặp các sĩ quan, một tướng-tướng Nghi, một đại tá chỉ huy lính dù đang sẵn sàng giao chiến và cố thủ. Ở đó vẫn còn các máy bay chiến đấu, máy bay lên thẳng, pháo và đạn dược. Tôi hỏi họ thiếu những gì, họ nói: “Máy ngắm cho súng đại bác và máy thông tin cho cấp phân đội”. Tôi lại đáp máy bay về Sài Gòn và cấp báo cho tướng H. Xmít tùy viên quân sự Mỹ, chuyên gia về hậu cần. Nhưng những thiết bị này không được cung cấp nữa. Đêm 18-4, Phan Rang mất, ở đó có nhiều đơn vị chiến đấu giỏi, nhưng binh lính mất tinh thần và cấp chỉ huy bối rối. Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi bị Việt cộng bắt. Tối hôm sau (19-4), Phan Thiết bị mất vì binh sĩ không còn tinh thần chiến đấu, dù đại tá tỉnh trưởng Ngô Tấn Nghĩa bố trí binh sĩ khắp các nơi có tính cách chiến lược, nhưng khi nghe tiếng xe tăng Việt cộng vào thành phố là lính bỏ chạy thoát thân. Trong lúc đi thăm tình hình chiến sự ở các nơi thì nhiều sĩ quan than phiền với tôi: “Những tướng tá làm mất các tỉnh cao nguyên và miền Trung bây giờ nhởn nhơ đi chơi ở Sài Gòn, có xe hộ tống đi ăn uống trong khi chúng tôi ở đây chịu hậu quả các việc làm của họ… Chiến sự không kịp xảy ra ở Phan Rang. Vả lại, nhiều nơi khác cũng vậy. Hai quân đoàn 1 và 2 đã tan rã chỉ trong vài ngày và toàn bộ dân chúng ở miền Trung chạy tán loạn về phía biển mà không thấy một người lính cộng hòa nào. Một mệnh lệnh kỳ lạ đã làm cho đất nước tan rã…

– Dẫu sao cũng đã có những trận chiến dữ dội ở Xuân Lộc, cách Sài Gòn chừng 60 km đó thôi?

– Trên thực tế, đó là cuộc giao chiến duy nhất trước khi Sài Gòn thất thủ. Chính Lê Văn Đào, một tướng trẻ tuổi là người khai chiến. Nhưng yếu tố có tính quyết định của trận giao chiến này là việc sử dụng loại vũ khí khủng khiếp do máy bay vận tải ném xuống: bom CBU làm giảm khí ô-xy. Loại vũ khí này đã chặn bước tiến của quân cộng sản chậm lại mà thôi. Lúc đó, chúng tôi có một loại bom thứ hai, nhưng người Mỹ đã cấm chúng tôi sử dụng vì các phương tiện thông tin đại chúng phương Tây công phẫn đã tố cáo “tội ác chiến tranh này” rồi-bom hóa học-sinh học…

– Tình trạng lộn xộn về chính trị đã ở mức cực kỳ phải không?

– Đúng như vậy! Khi từ chức, Thiệu đã thề là ở lại “đến cùng như một người lính với chiến hữu của mình”. Nhưng ông ta đã bỏ rơi chúng tôi bằng cách nhường quyền cho Phó tổng thống Trần Văn Hương, một ông già ốm yếu đã 71 tuổi … để chuồn trước. Ông già Hương đáng thương thay đã không thể trụ nổi một tuần. Trong thời gian này, tôi đã thực hiện nhiều chuyến đi tới các vùng châu thổ và bắc Sài Gòn. Quân đoàn 3 và 4 còn kiểm soát vùng của họ. Không quân còn tới gần 150 máy bay tiêm kích, và hải quân có hơn 100 tàu chiến đấu vẫn nguyên vẹn. Tất cả đều đã sẵn sàng kháng cự và chiến đấu. Nhưng ở Sài Gòn, người Mỹ và đại sứ Pháp không quan tâm tới tình hình quân sự. Đối với họ, điều được tính tới là loại bỏ Trần Văn Hương và đưa “Minh lớn”-đại tướng Dương Văn Minh, lên cầm quyền để hòng tiến hành thương lượng hòa bình ngay lập tức. Ngày 28, trong buổi lễ nhậm chức của Dương Văn Minh tại Quốc hội, tôi đã làm một bản tường trình chi tiết về tình hình quân sự, đồng thời nói rõ rằng, Sài Gòn đã bị 16 sư đoàn của cộng sản bao vây. Các sư đoàn này đều có súng đại bác tự hành 130 và 152mm với tầm bắn khoảng gần 30km và có cả bệ phóng tên lửa SAM-2.

– Những nguyên nhân làm cho “Minh lớn” thất bại là gì?

– Trên thực tế, ông ta không có một phương tiện nào để thương lượng việc ngừng bắn. Ông ta cũng không có uy tín trong quân đội nữa. Những tướng lĩnh trẻ không biết ông Minh, nhất là các nhà quân sự đều cho rằng ông ta chỉ là một công cụ của quân đỏ, những người này không để cho ông ta một lối thoát nào khác ngoài việc đầu hàng vô điều kiện. Không có cơ sở thực sự về chính trị lại không được sự ủng hộ của quân đội, ông ta bị cô độc.

– Nhưng còn tướng Cao Văn Viên thì như thế nào?

– Ngày 28-4, ông ta đã trở lại sứ quán Mỹ, trút bỏ bộ quân phục Tổng tham mưu trưởng và mặc quần áo bò. Người Mỹ đã dành riêng cho ông ta một chiếc máy bay nhỏ đưa ông ta sang Băng-cốc (Thái Lan), sau đó lên một chiếc máy bay của hãng Pan Am bay thẳng sang Mỹ. Bộ tổng tham mưu lúc đó thực sự rã đám hoàn toàn…

Theo Le Figaro 22-5-1995

Nguồn: qdnd.vn
Vkyno (st)

Advertisements
%d bloggers like this: