Trang chủ > Kỷ niệm sâu sắc đời bộ đội > Đi giải phóng đảo Côn Sơn ngày ấy

Đi giải phóng đảo Côn Sơn ngày ấy

Tháng Tư 5, 2014

QĐND – Ngày đó, tôi là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn bộ binh 6, Trung đoàn 12. Phó cho tôi là Lê Anh Kiên, người Nam Định. Chính trị viên tiểu đoàn là Phan Nho Đường, cùng quê Hà Tĩnh với tôi, phó cho anh Đường là Nguyễn Trọng Ba, người Nghệ An. Chúng tôi sung sức lắm, hăng hái lắm và đặc biệt rất hiểu nhau, tôn trọng nhau.

Ngày 30-4-1975, tiểu đoàn chúng tôi đánh địch tới hai, ba giờ chiều mới kết thúc tại khách sạn Palace (khách sạn Hòa Bình, Vũng Tàu hiện nay). Tôi nhớ, độ một hay hai ngày sau, vào buổi tối, Trung đoàn trưởng Đới Ngọc Cầu và Chính ủy Trung đoàn Trần Hữu Biền triệu tập tôi và Phan Nho Đường lên Sở chỉ huy. Tại đây, chúng tôi được Tư lệnh Sư đoàn Trần Bá Khuê và Chính ủy Sư đoàn Mai Tân trực tiếp giao nhiệm vụ, đại ý: Tiểu đoàn 6 là đơn vị Anh hùng, được Thường vụ Đảng ủy và Bộ tư lệnh Sư đoàn chọn đi chiến đấu giải phóng Côn Đảo cùng với lực lượng Hải quân nhân dân. Đây là trận chiến đấu hợp đồng quân, binh chủng đầu tiên có đủ Hải – Lục – Không quân tham gia.

Hàng ngàn tù chính trị Côn Đảo, đội ngũ chỉnh tề về dự mít tinh chào mừng Côn Đảo giải phóng và Lễ ra mắt của Ủy ban Quân quản Côn Đảo, ngày 5-5-1975.

Sau khi giao nhiệm vụ chiến đấu, đồng chí Biền gặp riêng chúng tôi ở sân với vẻ thận trọng nói: Chính quyền ngụy Sài Gòn đã đầu hàng, thắng lợi của cách mạng đã chắc chắn, hòa bình đã trong tầm tay. Anh em chúng ta không ai không mong đợi ngày trở về đoàn tụ gia đình. Vậy mà tiểu đoàn vẫn còn tiếp tục đi chiến đấu, đồng nghĩa phải đối mặt với hy sinh. Cuộc chiến đấu sắp tới ở Côn Đảo là trong thế áp đảo của ta, nhưng không thể không tính tới những ác liệt, hy sinh. Cần nói cho anh em biết, hàng ngàn anh chị em tù Côn Đảo, những chiến sĩ trung kiên nhất, dũng cảm, kiên cường nhất của cách mạng đang từng ngày, từng giờ chờ mong chúng ta ra giải phóng.

Các đồng chí lãnh đạo đã nói đúng. Trở về đơn vị, chúng tôi thấy bộ đội ở đâu cũng hoan hỷ mừng vui; ở đâu cũng kể chuyện chiến đấu, chiến thắng. Đây đó nhiều người đã nói chuyện viết thư về báo cho gia đình biết mình còn sống…

Tuy vậy, khi nghe chỉ huy tiểu đoàn tuyên bố mệnh lệnh ra giải phóng Côn Đảo, mảnh đất thiêng liêng của Tổ quốc, mảnh đất chịu nhiều đau thương, tàn bạo của kẻ thù… và đây là trận hợp đồng quân-binh chủng quy mô lớn nhất thì tất cả mọi người hào hứng hẳn lên. Niềm tin tất thắng, niềm tự hào của một đơn vị Anh hùng tràn ngập lòng họ. Tất cả lại hối hả chuẩn bị mọi mặt cho cuộc vượt biển. Tiểu đoàn được bổ sung quân. Tổng số khoảng 400 người (mỗi đại đội bộ binh 80 người). Tiểu đoàn được tăng cường 1 đại đội hỏa lực gồm 2 khẩu cối 82mm, 2 khẩu DKZ 75mm, 2 khẩu súng phòng không 12,7mm. Ngoài trang bị của 1 chiến sĩ bộ binh, chúng tôi được phát mỗi người một chiếc phao cá nhân và thuốc chống say sóng. Có một trường hợp làm tôi nhớ mãi, đó là đồng chí Diễn, chiến sĩ liên lạc tiểu đoàn, bị thương đang nằm ở trạm xá trung đoàn, nghe tin đơn vị đi giải phóng Côn Đảo đã trốn trạm về đòi đi chiến đấu. Tôi bảo phải ở nhà vì vết thương đang quấn băng. Đồng chí khóc lóc năn nỉ xin đi bằng được…

Khoảng 16 giờ ngày 3-5-1975, bộ đội lần lượt lên tàu tại Quân cảng Vũng Tàu. Tôi thấy 5 tàu của Hải quân đã chờ sẵn, 2 tàu hỏa lực có gắn tên lửa, 3 tàu khác mang vũ khí thông thường, dùng chở bộ binh.

Vũng Tàu sau những cơn mưa chiều 2 ngày qua đã trở nên mát dịu. Trời trong xanh. Đúng 17 giờ ngày 3-5-1975, tàu nhổ neo. Theo thói quen của người chỉ huy, tôi lên đài quan sát, bộ đội ngồi trên sàn tàu nghe Chính trị viên quán triệt thêm nhiệm vụ.

Đột nhiên phía trước xuất hiện nhiều tàu địch đang phất cờ đánh tín hiệu. Hải quân ta đánh tín hiệu trả lời. Tôi ra lệnh bộ đội sẵn sàng chiến đấu. Đồng chí chỉ huy tàu vui vẻ nói: Tàu địch đầu hàng đang xin ta chỉ đường vào bến đấy.

Đêm xuống, mặt biển đen thẫm, gió mát lạnh. Phan Nho Đường với vai trò Chính trị viên đi đôn đốc bộ đội ngủ, vừa để lấy sức, vừa để tránh say sóng.

Khoảng 3 giờ sáng ngày 4-5-1975, chỉ huy trung đoàn thông báo, Côn Đảo đã được giải phóng (chỉ huy trung đoàn đi với Tiểu đoàn 6 có Phó trung đoàn trưởng Nguyễn Hồng Sơn, người Quảng Ngãi, Phó chính ủy Trung đoàn Đồng Sĩ Tài, người Thái Bình và một số cán bộ, chiến sĩ thông tin, trinh sát). Các đồng chí nhắc nhở, vẫn phải sẵn sàng chiến đấu, không được lơ là.

Sáng 4-5-1975, Lễ chào cờ được tổ chức ngay sau khi bộ đội đổ bộ lên Côn Đảo. Ảnh do nhà báo Đoàn Tử Diễn chụp.

Tàu cách đảo khoảng 2km, tôi tổ chức một nhóm trinh sát và thông tin do Lê Anh Kiên, Phó tiểu đoàn trưởng kiêm Tham mưu trưởng tiểu đoàn chỉ huy lên 2 xuồng cao su do lính Hải quân chèo đổ bộ lên mũi Cá Mập (bên trái cầu cảng). Từ vị trí đó, các đồng chí men theo đường nhựa ven biển vào trung tâm thị trấn, bắt liên lạc với Ủy ban Hòa hợp-Hòa giải dân tộc. Chúng tôi hồi hộp chờ đợi tín hiệu từ đảo. (Sau này được kể lại, lực lượng nổi dậy trên đảo phát hiện tàu ta lại tưởng tàu địch quay lại vì trong đoàn tàu của ta có sử dụng một số tàu thu được của địch nên đã ra lệnh đục tường nhà, đắp ụ… chuẩn bị chiến đấu. Khi tổ trinh sát của Kiên bắt được liên lạc, mới biết Quân giải phóng đã ra đảo). Theo hợp đồng, Kiên cho bắn 5 phát pháo hiệu, tôi ra lệnh bắn đáp lại 3 phát và vui mừng khẳng định Côn Đảo đã chắc chắn được giải phóng.

Tàu chiến không thể cập cảng vì nước không đủ độ sâu, ta phải dùng sà lan từ trong bờ ra để đưa bộ đội lên cầu cảng.

Theo chỉ thị của chỉ huy trung đoàn, tôi ra lệnh cho bộ đội quân phục chỉnh tề, chuẩn bị ảnh Bác Hồ (do đồng chí Lê Xuân Phương, đặc phái viên về chính trị của Sư đoàn mang theo) và lá cờ QUYẾT THẮNG mà đơn vị được Sư đoàn trao trong buổi xuất quân Chiến dịch Xuân 1975 ở Đường 19 (tỉnh Bình Định).

Khoảng 9 giờ sáng ngày 4-5-1975, sà lan cập Cầu cảng 914. Bộ đội vừa bước lên cầu tàu thì bỗng nhiên trên bầu trời xuất hiện một tốp máy bay (3 hay 5 chiếc phản lực A37, tôi không nhớ chính xác) vòng lượn, gầm rú vang rền. Chúng tôi ngước nhìn, biết chắc là máy bay ta theo hợp đồng chiến đấu nhưng giờ đây là để chào mừng bộ đội đổ bộ lên đảo. Trên bờ, hàng ngàn chiến sĩ tù và nhân dân, tay cầm cờ đỏ sao vàng, cờ Mặt trận dân tộc giải phóng phần lớn làm bằng giấy, ríu rít vẫy chào. Ủy ban Hòa hợp – Hòa giải dân tộc còn tổ chức một đội quân hàng trăm người, bồng súng đứng 2 bên cầu tàu làm tiêu binh. Từ đâu đó bỗng vang lên lời hô: Bác Hồ muôn năm! Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam muôn năm! Hoan hô Quân giải phóng miền Nam Việt Nam! Tất cả những người ra đón đồng thanh hô theo làm rung chuyển cả vùng vịnh, dội lên vách núi Chúa ở phía sau, tạo nên âm hưởng vang rền kỳ diệu xúc động lòng người.

Tôi là người luôn vững vàng trước mọi buồn vui nhưng hôm đó quả thật hai mắt đã nhòa đi trong lệ.

Theo kế hoạch hợp đồng, bộ đội tiến thẳng vào Trụ sở Ủy ban (đặt tại nhà Chúa đảo cũ). Trước sân đã có cột cờ. Bộ đội và nhân dân (chủ yếu là tù chính trị) tiến hành chào cờ. Tôi được chỉ định chỉ huy buổi chào cờ ấy. Lòng tràn đầy xúc động, tôi vừa dứt khẩu lệnh chào cờ, bộ đội vừa cất tiếng hát bài “Giải phóng miền Nam” thì dàn nhạc của các chiến sĩ tù (chủ yếu là đàn măng-đô-lin) bỗng vang lên. Rồi hàng ngàn tiếng hát của nam nữ (rõ nhất là tiếng nữ) tù Côn Đảo như sóng cuộn, triều dâng. Tôi ngước nhìn lá cờ từ từ kéo lên mà thấy mình như bay bổng và ngập chìm trong tiếng hát đó.

Sau buổi lễ chào cờ, tiểu đoàn triển khai ngay lực lượng tác chiến, vì lúc này, theo Ủy ban Hòa hợp cho biết, bọn tù quân phạm trốn trại và bọn tội phạm, mấy ngày qua là nỗi đe dọa lớn nhất đối với an ninh trên đảo. Ngoài ra, bọn phản động tay sai ngoan cố vẫn còn lẩn trốn tìm cách bắt liên lạc với tàu hải quân Mỹ v.v.. Theo phương án hoạt động, Đại đội 63 (có cao xạ 12,7mm đi cùng) lên tảo trừ tàn quân địch ở sân bay Cỏ Ống, Đại đội 61 lên núi Chúa và chiếm lĩnh Đài viễn thông, Đại đội 62 và đại đội hỏa lực tảo thanh, bảo vệ trung tâm thị trấn.

Được tin ở khu vực núi Chúa và Đài viễn thông vẫn còn địch, tôi và Phan Nho Đường trực tiếp chỉ huy Đại đội 61 hành quân gấp tới đó.

Sau khi cho bắn hỏa lực (súng cối 82mm) phủ đầu, bộ đội lập tức xông lên. Nhưng tất cả căn cứ vắng tanh. Anh em lùng sục bắt được 1 tên tự khai là thượng sĩ phụ trách kỹ thuật của Đài. Anh ta nói, ở đây vốn có 1 trung đội bảo vệ kiêm kỹ thuật nhưng đã bỏ chạy hết rồi. Tôi sợ người xấu đến cướp phá máy móc nên ở lại giữ. Nay xin giao lại cho các ông. Tất cả vẫn còn nguyên, đây là những phương tiện kỹ thuật hiện đại, đắt tiền. Thấy viên thượng sĩ tỏ vẻ chân thành và thiện chí, tôi nói để anh ta yên tâm là sẽ cho ăn ở chung với bộ đội bảo vệ Đài và anh ta phải phục vụ cách mạng khi cần liên lạc với đất liền. Anh ta cám ơn rối rít và nói đi, nói lại: Cách mạng nhân từ! Cách mạng thông minh!

Những ngày tiếp theo, Tiểu đoàn 6 được hướng dẫn của các chiến sĩ tù, dùng tàu Hải quân đi tảo trừ các đảo Hòn Cau, Hòn Trứng, Đảo Dừa v.v.. Các bộ phận trinh sát, thông tin thay nhau cùng Hải quân đi tuần tra trong vịnh Côn Sơn suốt ngày đêm.

Sáng 5-5-1975, buổi lễ bàn giao của Ủy ban Hòa hợp-Hòa giải dân tộc cho Ủy ban Quân quản Côn Đảo (trong đó có tên tôi) vừa kết thúc, một nữ tù mặc áo bà ba đen chạy bổ tới ôm chầm lấy tôi và kêu lên: Anh Quế! Anh Quế phải không? Đúng anh Quế rồi! Anh có nhận ra em không? Em Thu đây!… Cô hỏi dồn dập không kịp cho tôi trả lời. Tôi bàng hoàng một lúc mới nhận ra vì cô gầy và già hẳn đi. Đúng là đồng chí Thu, chiến sĩ nuôi quân của đại đội tôi – Đại đội 3, Tiểu đoàn 12 pháo binh Sư đoàn bộ binh 2, Quân khu 5, hoạt động ở chiến trường Quảng Nam khoảng năm 1967-1968. Hồi đó, Thu nhỏ người nhưng khỏe mạnh, nhanh nhẹn, hoạt bát, công việc nào được giao cũng hoàn thành xuất sắc. Năm 1970, Thu được chọn đưa ra miền Bắc học nghiệp vụ một năm rồi trở về hoạt động ở nội thành Đà Nẵng. Năm 1973, trong một lần đi công tác, Thu bị địch bắt và đưa ra Côn Đảo. Thu kể cho tôi nghe những tội ác dã man của kẻ thù và những tấm gương kiên trung của anh chị em tù chính trị, trong đó có Thu. Một tân binh ngày nào, bây giờ trước mắt tôi đã là một chiến sĩ cách mạng dày dạn, cứng cáp. Không có nhiều thời gian nói chuyện, nhưng những gì nghe được, thấy được ở Thu làm cho tôi nhận ra một điều: Nhà tù là nơi rèn đúc ý chí người chiến sĩ cách mạng thành gang thép! Ra Nghĩa trang Hàng Dương dẫy cỏ, làm vệ sinh, thấy bạt ngàn những ngôi mộ to nhỏ, người lính càng cảm nhận sâu sắc sự hy sinh to lớn của các bậc cách mạng đàn anh.

Thời gian trôi thật nhanh, mới đó mà đã 38 năm. Côn Đảo bây giờ đã đổi khác. Tôi chỉ suy ngẫm một điều: Nên chăng, các cấp lãnh đạo và cơ quan chức năng cho xây dựng một tấm bia lưu niệm tại Cầu tàu 914 ghi dấu thời khắc lịch sử Quân giải phóng đổ bộ lên Côn Đảo sáng 4-5-1975, vĩnh viễn chấm dứt 113 năm chế độ ngục tù trên mảnh đất Côn Sơn (1862-1975).

NGUYỄN VĂN TÍCH (Theo lời kể của Đại tá Lê Văn Quế, nguyên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 12, Sư đoàn 3 Sao Vàng.)

Nguồn: qdnd.vn
Vkyno (st)

%d bloggers like this: