Trang chủ > Phân tích > Trở lại Điện Biên – Lá cờ và ngọn cỏ

Trở lại Điện Biên – Lá cờ và ngọn cỏ

Tháng Tư 5, 2014

Văn học và sự kiện

QĐND – Chủ Nhật, 12/05/2013, 8:49 (GMT+7)

Chỉ thấy một vùng cỏ biếc non tơ
Mây trắng bay, mây trắng đến không ngờ
Cành phượng rủ một chùm hoa đỏ chót

Chỉ có thế thôi ư
Mà chính là A1
Mà chính là Him Lam.
Anh đã đi qua hơn hai mươi năm
Để gặp lại tuổi thơ mình náo nức
Nghe tiếng bom và đại bác
Gầm lên từ trang sách học trò
Mảnh đất này anh đã gặp trong mơ
Tay lần giở tấm bản đồ trí nhớ
Và lần ấy, lâu rồi, trong một bài thi Sử
Anh đã giành điểm 5
Bỗng hôm nay đối diện với Him Lam
Anh cúi xuống chỗ nằm xưa anh Giót
Và chợt hiểu: Điều ngạc nhiên lớn nhất
Là anh chẳng ngạc nhiên gì
Anh đã đi
Từ chiến trường Điện Biên đến chợ Điện Biên
Mùi trái chín cứ thơm lừng phố núi
Quen thuộc quá đến không còn nhớ nổi
Tình yêu này anh có từ đâu
Đất dưới chân anh, trời thắm ở trên đầu
Gặp chiếc xe tăng gỉ hoen nằm trong lúa
Như cục than cháy vùi trong ngọn lửa

Ngọn lửa màu xanh

Hầm Đờ Ca-xtơ-ri vừa vặn giữa cung đường
Đi chợ về, chị Thái nghỉ, soi gương.
Có phải hôm nay trước màu xanh thung lũng
Anh mới hiểu: Hồn nhiên là cuộc sống
Nghe quanh mình dào dạt cỏ non tơ
Anh bâng khuâng nhớ đến một ngọn cờ
Đã một lần mọc lên trên cỏ ấy
Cái sắc đỏ bừng bừng như đám cháy
Đốt thiêu những bốt đồn thù
Anh không là đám mây trắng vô tư

Trên đỉnh Pú Hồng Mèo lặng lẽ
Trái tim anh đập một lời giản dị:
Ngọn cỏ đời đời xanh suốt tháng năm
Ngọn cờ mọc lên chỉ có một lần
Nhưng có điều này-
Cả hai đều bất diệt.

Điện Biên, mùa hè 1978
ANH NGỌC

(Rút trong tập thơ chọn “Anh Ngọc-Gửi lại thời gian”,  Nhà xuất bản Văn học, 2008)

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu” cách nay gần 6 thập kỷ là chiến thắng quân sự lớn nhất của quân và dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, niềm tự hào của nhân dân ta cùng nhân dân các nước thuộc địa trên thế giới. Lần đầu tiên một nước thuộc địa châu Á đánh bại đội quân xâm lược tinh nhuệ của một nước châu Âu, chấm dứt sự can thiệp của thực dân Pháp trên địa bàn Đông Dương, là tấm gương để nhiều nước thuộc địa châu Phi đứng lên chiến đấu giành độc lập…

Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm hầm chỉ huy của Đờ Ca-xtơ-ri ở Điện Biên Phủ tháng 4-2004. Ảnh: Trần Định.

Chiến dịch đó, trong 56 ngày đêm “khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt”, ta đã giành toàn thắng vào cuối chiều ngày 7-5-1954, đem lại sự thất bại cực kỳ to lớn đối với thực dân Pháp.

Từ bài thơ “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” của nhà thơ Tố Hữu viết ngay sau khi chiến dịch toàn thắng, đến nay sau gần 6 thập kỷ, đã có đến hàng trăm, thậm chí hàng ngàn bài thơ viết về đề tài này. Không một nhà thơ nào có dịp thăm Điện Biên mà không có thơ về Điện Biên, có nhà thơ viết hàng chục bài, không ít nhà thơ viết trường ca… Nhiều nhà thơ không có điều kiện đến Điện Biên vẫn có thơ viết về Điện Biên, qua việc thu thập tài liệu từ báo chí, sách vở và bè bạn, vẫn có đủ cảm hứng cho thi phẩm ra đời… Trừ bài thơ của nhà thơ Tố Hữu có cái nhìn toàn cục về chiến dịch này và ý nghĩa to lớn của nó, các nhà thơ khác thường viết từ cảm hứng khi được đến thăm chiến trường xưa, và có khi dừng lại một khía cạnh, một chi tiết, một con người nào đó như Xuân Diệu, Trinh Đường viết về Bế Văn Đàn, người lấy thân mình làm giá súng, Chế Lan Viên lại ghi cảm hứng khi thấy người dân mang thóc lên phơi trong nghĩa trang liệt sĩ, để nói về ý nghĩa của sự hy sinh của các anh hùng, liệt sĩ…

Đại tá, nhà thơ Anh Ngọc, người được trao “Giải thưởng Nhà nước” về văn học nghệ thuật, quê ở Nghi Lộc, Nghệ An, sinh năm 1943, nghĩa là khi Chiến địch Điện Biên diễn ra, anh mới 11 tuổi. Năm 1978, sau 24 năm Điện Biên toàn thắng, với tư cách là một phóng viên của Báo Quân đội nhân dân, anh mới có dịp đặt chân lên mảnh đất lịch sử này. Đây là lần đầu đến Điện Biên, thế mà đầu đề bài thơ lại là “Trở lại Điện Biên…”. Nghĩa là đối với nhà thơ quân đội này, Điện Biên không hề xa lạ, anh đã từng “gặp” từ tuổi thơ, đã từng “Nghe tiếng bom và đại bác/ Gầm lên từ trang sách học trò”. Cũng như nhiều người khác, trước khi đến chiến trường cũ thường hình dung mảnh đất ấy phải khác thường do bao nhiêu bom đạn đã trút xuống, bao nhiêu xương máu đã chôn vùi, hòa trộn… Nhưng, quang cảnh Điện Biên ngày nhà thơ đến đã khiến ông kêu lên

“Chỉ thấy một vùng cỏ biếc non tơ
Mây trắng bay, mây trắng đến không ngờ
Cành phượng rủ một chùm hoa đỏ chót
Chỉ có thế thôi ư
Mà chính là A1
Mà chính là Him Lam”

Ngạc nhiên vì sự thanh bình cỏ non, mây trắng ngay trên những cứ điểm ác liệt bậc nhất của Điện Biên. Trận đánh chiếm đồi Him Lam là trận mở màn, diễn ra vào ngày 15-3-1954. Nói Chiến dịch Điện Biên kéo dài 56 ngày đêm là tính từ trận này, từ ngày nổ súng đầu tiên, chứ nếu tính cả khâu chuẩn bị thì, ít nhất cũng phải tính từ ngày 5-1-1954, ngày Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ biệt Bác Hồ ở Định Hóa, Thái Nguyên để đi tổ chức và chỉ huy chiến dịch. Còn đồi A1, nơi diễn ra trận đánh quyết định do một tấn thuốc nổ của ta nổ tung, tiêu diệt và vô hiệu hóa sức phòng thủ của địch trên đồi này, dẫn đến sự đầu hàng của Đờ Ca-xtơ-ri vào chiều ngày mồng 7-5 lịch sử. Những địa danh vô cùng ác liệt trong ký ức từ tuổi thơ, nay đến tận nơi chỉ gặp sự yên bình đến thế! Yên bình thật đấy, nhưng là yên bình của chiến trường xưa, vì ngay đên đỉnh đồi A1 vẫn còn một chiếc xe tăng hỏng, sắt thép phơi mãi với thời gian, và trên đỉnh đồi Him Lam, vẫn còn cái lô cốt, nơi anh Phan Đình Giót hy sinh. Nhà thơ Anh Ngọc đã cúi xuống lỗ châu mai, nơi Phan Đình Giót nằm sấp, căng rộng ngực mình ra để bịt chặt lỗ châu mai, chặn luồng đạn giặc từ trong lô cốt bắn ra, để đồng đội tiến lên. Anh Ngọc không nhắc chiếc xe tăng trên đỉnh đồi A1, mà chú ý những chiếc xe tăng trên cánh đồng Mường Thanh:

“Gặp chiếc xe tăng gỉ hoen nằm trong lúa
Như cục than cháy vùi trong ngọn lửa
Ngọn lửa màu xanh…
Hầm Đờ Ca-xtơ-ri vừa vặn giữa cung đường
Đi chợ về, chị Thái nghỉ, soi gương…”

Trong bài thơ này, đặc biệt là khổ thơ vừa trích dẫn, nhà thơ Anh Ngọc chú ý sự tương phản, đối lập giữa cái thiện và cái ác, giữa sự hủy diệt nhất thời và sự sống vĩnh cửu; sự vô duyên của phương tiện chiến tranh hoen gỉ và sự hồn nhiên, đáng yêu của cuộc sống hằng ngày. Hình ảnh cô gái Thái soi gương tự ngắm nghía mình bên hầm Đờ Ca-xtơ-ri mang tính ẩn dụ, chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu xa.

“Anh đã đi
Từ chiến trường Điện Biên đến chợ Điện Biên
Mùi trái chín cứ thơm lừng phố núi…”

Xin bạn đọc trẻ đừng hình dung chợ Điện Biên như ngày nay, một khu chợ hiện đại nằm trong lòng thành phố. Ngày nhà thơ Anh Ngọc đến, chợ Điện Biên là một khoảng đất trống nằm giữa thị trấn, khi chợ họp xong chỉ trơ nền đất lăn lóc lá chuối khô và những cái lều sơ sài lợp lá hoặc ni lông, thậm chí có cái không lợp gì mà chỏng chơ bốn cọc như cán chổi! Có một thứ quả góp cho “mùi trái chín thơm lừng phố núi” đó là chuối tiêu, một đặc sản của Điện Biên trong nhiều thập niên. Bạn đọc lưu ý rằng, trước năm 1954, ở vùng Điện Biên chỉ có chuối tây, không có chuối tiêu. Năm 1956, Sư đoàn 316 chuyển lên xây dựng và phát triển kinh tế nơi đây, đã đem giống chuối tiêu từ đồng bằng Bắc Bộ lên trồng, nên dân ở đây còn gọi giống chuối tiêu này là chuối 316!

Đọc bài thơ này cũng như tuyển tập thơ của Anh Ngọc, ta thấy ông luôn chú ý tới cuộc sống trường tồn, ngay cả khi viết về những vấn đề thời sự cũng không bao giờ dừng lại ở cái “thời sự ngắn”, mà luôn hướng người đọc về những gì bất biến, vượt qua sự ác liệt của hoàn cảnh, thử thách của thời gian. Chính vì thế mà thơ viết về chiến tranh của Anh Ngọc có sức sống dài lâu trong thời bình. Hình ảnh “cỏ non tơ” được nhắc lại nhiều lần trong bài thơ này, cùng với mây trắng, lúa xanh… chính là những biểu tượng mang ý nghĩa trường tồn đó. Còn hình ảnh “ngọn cờ” thì sao? Ngọn cờ là biểu tượng của vinh quang, chiến thắng và Tổ quốc. Chính vì thế, Anh Ngọc đã gói bài thơ của mình lại bằng khổ thơ:

“Trái tim anh đập một lời giản dị:
Ngọn cỏ đời đời xanh suốt tháng năm
Ngọn cờ mọc lên chỉ có một lần
Nhưng có điều này
– Cả hai đều bất diệt”.

Tháng 5-2013 VƯƠNG TRỌNG

Nguồn: qdnd.vn Vkyno (st)

Advertisements
Chuyên mục:Phân tích Thẻ:,
%d bloggers like this: